Pages

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2018

Sa búi trĩ và cách chữa trị tận gốc

Sa búi trĩ hay còn gọi là bệnh lòi dom là căn bệnh rất hay thường gặp. Tùy mức độ sa búi trĩ là nhẹ hay nặng khác nhau mà người bệnh có thể lựa chọn cách chữa trị lòi dom khác nhau như: chữa sa búi trĩ bằng cách dân gian, dùng thuốc Tây y thuốc bôi kết hợp thuốc uống hoặc lựa chọn các phương pháp phẫu thuật cắt trĩ điều trị bệnh trĩ dứt điểm (trong trường hợp sa búi trĩ nặng).

1.Sa búi trĩ (bệnh lòi dom)

Búi trĩ hay còn gọi là búi dom được hình thành do các tĩnh mạch ở trực tràng hậu môn bị phình gập gây nên hiện tượng phồng lên, chúng có thể xuất hiện ở trong hoặc là ở ngoài hậu môn.

Sa búi hay còn gọi là bệnh lòi dom trĩ  là hiện tượng mà búi trĩ lòi ra ngoài, sa xuống hậu môn khi người bệnh đi đại tiện hoặc trong trường hợp người bệnh vận động mạnh. Triệu chứng sa búi trĩ có thể dễ dàng nhận thấy sau một thời gian chảy máu hậu môn do bệnh trĩ gây ra. Chúng không chỉ gây khó khăn khi đi lại, ngứa ngáy hậu môn mà còn có thể gây nhiễm trùng, làm tăng nguy cơ ung thư hậu môn trực tràng khi không được giải quyết sớm.

2.Dấu hiệu nhận biết dấu hiệu sa búi trĩ, lòi trĩ

2.1 Đối với sa búi trĩ nội

Sa búi trĩ nội hình thành và phát triển qua 4 giai đoạn tương uqwngs với 4 cấp độ dưới đây:
  • Ở cấp độ 1: Búi trĩ chưa được hình thành rõ ràng, hoặc đã hình thành nhưng chưa sa ra ngoài. Thường lúc này chỉ có hiện tượng chảy máu hậu môn.
  • Ở cấp độ 2: Sau mỗi lần đại tiện búi trĩ bắt đầu lòi ra ngoài, nhưng sau đó chúng có thể tự thụt vào được.
  • Ở cấp độ 3: Búi trĩ lòi ra ngoài sau khi đi cầu nhưng không thể tự co lên được nữa mà cần dùng tay đẩy vào.
  • Ở cấp độ 4: Búi trĩ lòi hẳn ra ngoài một cách thường trực ngay cả khi ho, ngồi xổm hay bưng bê vật nặng mà không nhét vào được nữa.
2.2 Đối với bệnh trĩ ngoại

Búi trĩ ở đây là các búi tĩnh mạch trực tràng, hình dạng ngoằn nghèo. Có thể nhận thấy ngay khi mới mắc bệnh với sự xuất hiện các mảnh da thừa ở hậu môn.

  • Ở giai đoạn nhẹ: Búi trĩ có thể xẹp xuống và có thể dùng tay ấn vào.
  • Ở giai đoạn nặng: Búi trĩ sa hẳn ra ngoài và việc tác động không có tác dụng.
3. Cách chữa trị khi bị sa búi trĩ ra ngoài

Khi búi trĩ sa ra ngoài tùy từng tình trạng cụ thể với mức độ nặng nhẹ ra sao và mắc loại trĩ nào mà có cách điều trị hiệu quả nhất.

3.1 Đối với tình trạng sa búi trĩ ở cấp độ nhẹ

Bệnh nhân có thể dùng các loại thuốc đặt, thuốc bôi hoặc kháng sinh giúp trợ mạch, kháng viêm, giảm sưng đau, giảm ngứa và giúp hỗ trợ đưa bệnh trĩ thụt vào bên trong hậu môn. 

Ngoài ra, người bệnh có thể áp dụng một số cách chữa trị sa búi trĩ bằng phương pháp dân gian như dùng: rau diếp cá, lá trầu không, cây hoa thiên lý, cỏ mần trầu, đu đủ xanh, lá vông...

Các bạn tham khảo thêm: Cách chữa lòi dom tận gốc tại nhà

Bên cạnh việc điều trị người bệnh cũng cần biết cách tự chăm sóc bằng cách:
  • Tránh kéo dài thời gian đi vệ sinh với thói quen đọc sách báo, dùng điện thoại,…
  • Dùng khăn ẩm sạch để lau hậu môn thay vì dùng giấy vệ sinh khô.
  • Chườm đá, đắp gạc lạnh lên hậu môn mỗi ngày 4 lần, mỗi lần 10 phút để giảm sưng đau.
  • Khi bị sa búi trĩ cũng cần ngâm hậu môn bằng nước ấm hàng ngày sẽ rất tốt.
  • Ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ, uống nhiều nước và tránh thức ăn cay nóng, các chất kích thích và tăng cường vận động,… để hạn chế triệu chứng bệnh trĩ nặng thêm.

3.2 Điều trị tình trạng sa búi trĩ ở cấp độ nặng hơn

Búi trĩ lúc này sa ra ngoài khó khắc phục bằng phương pháp nội khoa. Hơn nữa, búi trĩ lòi hẳn ra ngoài còn ảnh hưởng lớn đến việc đi lại, sinh hoạt của bệnh nhân và tiềm ẩn nguy cơ gây nhiễm trùng, ung thư trực tràng – hậu môn,… Do đó, sa búi trĩ lúc này cần áp dụng phương pháp phẫu thuật cắt trĩ như phương pháp cắt trĩ PPH, phương pháp cắt trĩ bằng sóng cao tần HCTP, phương pháp Longo... để đạt hiệu quả điều trị bệnh tốt nhất.

Xem thêm: Những hình ảnh sa búi trĩ thường gặp

Theo cotripro.vn

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2018

Bà bầu bị trĩ có sinh thường được không?

Nên sinh thường hay sinh mổ? Đây là điều khiến nhiều mẹ bầu đau đầu, lo lắng khi mắc bệnh trĩ trong quá trình mang thai. Cùng Cotripro.vn đi tìm lời giải đáp cho thắc mắc "bà bầu bị trĩ có sinh thường được không?" nhé.



Bệnh trĩ ở phụ nữ mang thai

Bệnh trĩ có thể coi là nỗi ám ảnh với mọi phụ nữ khi mang thai. Việc mang thai, ốm nghén đồng thời mắc thêm căn bệnh tế nhị nhưng không thể dùng thuốc điều trị khiến rất nhiều mẹ bầu khó chịu, mệt mỏi, lo lắng.

Nguyên nhân gây ra bệnh trĩ ở bà bầu là do khi mang thai, túi nước ối ngày càng phình to tỉ lệ với kích thước bào thai, khiến các vùng tĩnh mạch vùng chậu phải chịu áp lực đè nén lớn trong thời gian dài. Đồng thời, cơ thể bà bầu khi mang thai, lượng máu tuần hoàn chảy với tốc độ nhanh hơn người bình thường khiến cho cơ thể bị nóng trong. Hậu quả làm cho các đám tĩnh mạch trĩ bị giãn nở quá mức, hình thành các búi trĩ và trực tiếp gây ra bệnh trĩ.


Bà bầu bị trĩ có sinh thường được không?

Trên thực tế, bà bầu bị mắc bệnh trĩ không nhất thiết phải sinh mổ. Tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau mà các mẹ cân nhắc, lựa chọn cho mình phương pháp phù hợp. Những yếu tố tác động như:

  • Dựa vào mong muốn của các mẹ bầu.
  • Sức khỏe của mẹ bầu tốt hay không tốt?
  • Mức độ bệnh trĩ hiện tại là nặng hay nhẹ?

Trường hợp 1: Bà bầu bị mắc bệnh trĩ cấp độ nhẹ (cấp độ 1, 2).

Ở trường hợp này, do mức độ bệnh trĩ còn nhẹ, nên các bà bầu có sức khỏe tốt thì có thể cân nhắc lựa chọn cách sinh thường. Tuy nhiên, đánh giá theo một góc độ nào đó, quá trình sinh thường có thể khiến bệnh trĩ phát triển nặng hơn sau sinh do người mẹ phải mất sức rặn nhiều trong quá trình sinh con; phải đối mặt với nguy cơ tổn thương, nhiễm trùng búi trĩ, các cơn đau sau sinh có thể kéo dài.

Trường hợp 2: Bà bầu mắc bệnh trĩ cấp độ nặng (cấp độ 3 và 4).

Ở bệnh trĩ độ 3 và 4, hiện tượng sa búi trĩ phát triển với mức độ nặng, các búi trĩ sa ra ngoài một cách mất kiểm soát (trường hợp trĩ độ 3) hoặc có thể mất khả năng co vào trong hậu môn (trong trường hợp bệnh trĩ độ 4). 

Vì vậy, trong trường hợp này, các bác sĩ thường đưa ra lời khuyên cho các bà bầu tham khảo cách sinh mổ nhằm tránh một số biến chứng có thể xảy ra trong quá trình "vượt cạn" như: búi trĩ sa ra ngoài nhiều, chảy máu búi trĩ gây biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và bé.

Hiện nay, không hề có chỉ định bắt buộc sinh mổ nào đối với bà bầu mắc bệnh trĩ trong thời gian mang thai. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho sức khỏe của mẹ và bé, các mẹ bầu nên tìm hiểu kĩ thông tin, xin lời tư vấn của bác sĩ chuyên khoa để có lựa chọn phù hợp nhất đối với bản thân mình.

Mặc dù không thể dùng các loại thuốc ngăn chặn sự phát triển của bệnh trĩ trong quá trình mang thai, nhưng người bệnh cũng có thể áp dụng một số cách giúp hạn chế sự phát triển của bệnh trĩ như: dùng các phương pháp dân gian điều trị bệnh trĩ, thay đổi chế độ ăn uống với nhiều thành phần chất xơ, rau xanh, tập đi đại tiện hàng ngày, đi bộ, vận động nhẹ nhàng, uống nhiều nước... giúp cải thiện tình hình bệnh và tăng cường sức khỏe bản thân và bé yêu.

Xem thêm:
Theo Cotripro.vn

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Nguyên nhân và cách phòng còi xương ở trẻ

Thưa bác sĩ, xin cho tôi biết nguyên nhân nào dẫn đến bệnh còi xương ở trẻ. Từ đó có thể cho tôi biết cách phòng chữa bệnh còi xương. Chân thành cảm ơn bác sĩ! (Từ Minh Hằng – Sơn La).

Bạn Minh Hằng thân mến!

Dưới đây là một số nguyên nhân chính gây còi xương ở trẻ:

- Thiếu ánh sáng mặt trời: Nhiều trẻ bị còi xương chỉ vì cha mẹ giữ gìn quá kỹ hoặc không có điều kiện cho tắm nắng (do yếu tố địa lý khí hậu, mùa đông, vùng núi sương mù, nhà ở chật chội, ô nhiễm môi trường…).

- Tình trạng thiếu hụt nặng vitamin D của người mẹ trong thời gian mang thai: Điều này có thể phá vỡ cân bằng canxi nội mô ở bào thai và gây rối loạn quá trình khoáng hóa xương, dẫn đến còi xương từ trong bào thai. Hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thấp, nên trẻ sơ sinh chủ yếu dựa vào lượng vitamin D dự trữ thu được qua rau thai để đáp úng nhu cầu cơ thể. Vì vậy, việc người mẹ thiếu vitamin D trong thời gian mang thai là yếu tố nguy cơ cao gây còi xương sớm ở trẻ sơ sinh.

- Chế độ ăn của trẻ thiếu cả vitamin D và canxi, tỷ lệ canxi/photpho thấp. Chế độ ăn nhiều phytat (có nhiều trong tinh bột), oxalat (có nhiều trong rau) và chất xơ cũng làm giảm hấp thu canxi.

- Trẻ suy dinh dưỡng: Một số công trình nghiên cứu cho thấy, còi xương không xảy ra riêng lẻ mà đi kèm với suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, thiếu máu. Trẻ suy dinh dưỡng thường hay rối loạn hấp thu các chất, kể cả vitamin D và muối khoáng; đồng thời thiếu hụt enzym chuyển hóa vitamin D. Ngược lại, tình trạng thiếu vitamin D cũng sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tăng cảm nhiễm với vi khuẩn, do đó tăng nguy cơ suy dinh dưỡng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, trẻ suy dinh dưỡng có nguy cơ còi xương cao hơn so với trẻ bình thường.

- Trẻ có cân nặng lúc đẻ thấp (dưới 2.500g) có nguy cơ còi xương cao hơn trẻ có cân nặng lúc đẻ bình thường. Nguyên nhân là cơ thể không dự trữ đủ muối khoáng và vitamin D trong thời kỳ bào thai, đồng thời hệ thống men tham gia vào chuyển hóa vitamin D còn yếu.

- Có hội chứng kém hấp thu: Tình trạng thiếu vitamin D dễ xảy ra ở những trẻ có hội chứng này. Các bệnh tiêu chảy kéo dài, nhiễm ký sinh trùng đường ruột, viêm gan tắc mật đều có ảnh hưởng đến hấp thu vitamin D và tăng nguy cơ còi xương.

Để dự phòng còi xương:

- Trong thời gian có thai và cho con bú, người mẹ nên dành thời gian tắm nắng, đi dạo ngoài trời. Nên ăn uống hợp lý, chú ý thực phẩm giàu vitamin D, canxi để phòng tránh còi xương sớm cho trẻ từ trong bào thai và trong những tháng đầu sau đẻ.

- Cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh, bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu , sau đó cho ăn bổ sung. Chú ý cho ăn dầu mỡ, thực hiện tô màu bát bột. Hằng ngày phải cho trẻ tắm nắng 5-10 phút để có đủ vitamin D.

- Bổ sung vitamin D 400 đơn vị/ngày cho trẻ đẻ non, đẻ thấp cân. Một trong những biện pháp phòng bệnh còi xương là tăng cường vitamin D vào thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em.

(Theo VTV)

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Nhậu nhiều dễ hư khớp háng

Nhiều người nhậu mọi lúc mọi nơi và hậu quả cũng vô số kể. Một trong số đó là tình trạng hư khớp háng do hoại tử chỏm xương đùi.

Nguyên nhân hàng đầu thay khớp háng ở người trung niên và trẻ hiện nay tại Việt Nam là do hoại tử chỏm xương đùi. Hoại tử chỏm xương đùi là tình trạng chết của xương do thiếu máu nuôi. Bệnh thường xảy ra trong độ tuổi 30-60, ở cả hai chỏm xương đùi với độ nặng khác nhau hay như nhau.

Bệnh xảy ra do các bệnh lý gây tắc những mạch máu nhỏ cung cấp máu cho chỏm xương đùi, ví dụ do các chất mỡ gây tắc mạch trên những bệnh nhân có tổn thương gan do rượu. Nguyên nhân có thể chia làm hai nhóm chính là có chấn thương hay không chấn thương.

Nguyên nhân do chấn thương như té gãy cổ xương đùi, trật khớp háng… Nguyên nhân không do chấn thương bao gồm uống nhiều rượu, bia, dùng corticoide liều cao kéo dài, bệnh lý giảm áp như những người thợ lặn sâu và trồi lên đột ngột, bệnh lý hồng cầu hình liềm, chạy tia xạ. Có khoảng 25% không rõ nguyên nhân là gì.

Đau khi đi đứng

Chưa rõ cơ chế

Trong số những nguyên nhân gây hoại tử chỏm xương đùi không phải do chấn thương thì tình trạng lạm dụng rượu và corticoide và nguyên nhân vô căn là nhiều nhất. Cho đến nay, cơ chế tại sao rượu lại gây hoại tử chỏm xương đùi vẫn không rõ.

Người ta cho rằng việc lạm dụng rượu có thể làm tăng lượng mỡ trong máu gây ra tình trạng thuyên tắc mỡ ở các động mạch nuôi chỏm xương đùi làm thiếu máu nuôi chỏm xương đùi khiến nó bị hoại tử. Lưu ý việc tăng cao lượng mỡ trong máu cũng có thể dẫn tới tình trạng viêm tụy cấp.

Triệu chứng thường là có cơn đau khởi phát đột ngột mà có lẽ do thiếu máu nuôi đột ngột. Tuy nhiên, thường bệnh nhân đã có tình trạng hoại tử chỏm trước đó. Cơn đau ngày càng nhiều khi xương chết làm xẹp chỏm xương đùi, đau khi đi đứng và giảm khi nghỉ ngơi.

Cơn đau xuất phát từ bẹn lan xuống mặt trong đùi, hoặc đôi khi cảm giác đau sau mông. Cơn đau làm hạn chế các vận động của khớp háng và khi khám thấy động tác xoay ngoài và xoay trong háng bị giảm trước. Đôi khi bệnh nhân có cảm giác đau ở vùng gối và khiến nhiều bác sĩ chẩn đoán lầm.

Việc chẩn đoán thường dựa trên lâm sàng và X quang. Tuy nhiên ở giai đoạn sớm, X quang thường không phát hiện được mà cần tới phim MRI.

Khi đã có chẩn đoán, việc điều trị sẽ bao gồm thuốc kháng viêm giảm đau nhưng kết quả không khả quan mấy. Có rất nhiều phương pháp phẫu thuật nhằm cứu vãn chỏm xương đùi. Động tác đơn giản nhất là khoan giải áp, phức tạp hơn có thể ghép xương xốp sau khi khoan, ghép mào chậu có cuống mạch hay xương mác có cuống mạch.

Nghĩa là bác sĩ sẽ khoan một đường hầm giải áp trong chỏm xương đùi, sau đó dùng một miếng xương có mạch máu nuôi đi theo đặt vào trong chỗ đường hầm với hi vọng chỏm xương đùi sẽ có máu nuôi và sống lại. Lý thuyết là như thế nhưng kết quả khá hạn chế. Tuy nhiên, người ta vẫn tiến hành vì mục tiêu cứu lấy chỏm xương đùi.

Thay khớp háng

Khi chỏm xương đùi đã hư hoàn toàn thì biện pháp cuối cùng để giải thoát cho bệnh nhân khỏi cơn đau và sự tàn phế là thay khớp háng. Thay khớp háng giúp bệnh nhân đi lại dễ dàng, không đau. Tuy nhiên, khớp háng nhân tạo không thể tốt hơn chỏm xương đùi thật, bệnh nhân sẽ không được phép ngồi xổm hay bắt chéo chân, nguy cơ có thể bị trật khớp háng mặc dù có nhiều nỗ lực nghiên cứu từ các hãng dụng cụ để giảm thiểu tình trạng này.

Thứ đến khớp háng nhân tạo có một tuổi thọ nhất định, sau một thời gian 10-15 năm khớp hư phải thay. Việc thay lại sẽ rất khó khăn và tốn kém do xương bị hư nhiều. Người mang khớp háng nhân tạo cũng giống như mang van tim nhân tạo phải tránh để bị nhiễm trùng ở da, răng, miệng hay những nơi khác, vì khi đó vi khuẩn sẽ bám vào khớp háng nhân tạo gây nhiễm trùng và như thế thì rất tồi tệ.

Vì những biến chứng trên mà các bác sĩ cố gắng kéo dài thời gian sử dụng chỏm xương đùi thật cho đến khi không còn cách nào khác mới thay. Ở nước ngoài việc thay khớp háng được bảo hiểm trả nhưng ở VN sẽ là một gánh nặng cho bệnh nhân vì giá khá cao. Tốt nhất có lẽ bớt nhậu để giảm nguy cơ hoại tử chỏm xương đùi.

(Theo TTO)

Nhậu nhiều – coi chừng hư khớp háng

Về khoản nhậu thì có lẽ dân Việt Nam là "Vô địch". Nhậu mọi lúc mọi nơi và hậu quả thì cũng vô số kể. Một trong số đó là tình trạng hư khớp háng do hoại tử chỏm xương đùi.

Nguyên nhân và triệu chứng

Hoại tử chỏm xương đùi là tình trạng chết của xương do thiếu máu nuôi. Bệnh thường xảy ra ở độ tuổi từ 30-60, xảy ra ở cả 2 chỏm xương đùi với độ nặng khác nhau hay như nhau.Bệnh xảy ra do các bệnh lý gây tắc các mạch máu nhỏ cung cấp máu cho chỏm xương đùi, ví dụ tắc mạch do các chất mỡ gây tắc mạch trên những bệnh nhân có tổn thương gan do rượu.

Nguyên nhân có thể chia làm 2 nhóm chính là có chấn thương hay không chấn thương. Nguyên nhân do chấn thương ví dụ như: té gãy cổ xương đùi, trật khớp háng… nguyên nhân không do chấn thương bao gồm: uống nhiều rượu, bia, dùng corticoide liều cao kéo dài, bệnh lý giảm áp như những người thợ lặn lặn sâu và trồi lên đột ngột, bệnh lý hồng cầu hình liềm, chạy tia xạ và có khoảng 25% không rõ nguyên nhân là gì.

Triệu chứng thường là có cơn đau khởi phát đột ngột mà có lẽ là do thiếu máu nuôi đột ngột. Tuy nhiên, bệnh nhân thường đã có tình trạng hoại tử chỏm trước đó. Cơn đau ngày càng nhiều khi xương chết làm xẹp chỏm xương đùi, đau khi đi đứng và giảm khi nghỉ ngơi. Cơn đau xuất phát từ bẹn lan xuống mặt trong đùi hoặc đôi khi cảm giác đau sau mông. Cơn đau làm hạn chế các vận động của khớp háng và khi khám thấy động tác xoay ngoài và xoay trong háng bị giảm trước. Đôi khi bệnh nhân có cảm giác đau ở vùng gối và khiến cho nhiều bác sĩ chẩn đoán lầm.

Chẩn đoán và điều trị

Việc chẩn đoán thường dựa trên lâm sàng và X-quang, tuy nhiên ở giai đoạn sớm, X-quang thường qui không phát hiện được, mà phải cần tới phim MRI mới cho phép thấy các tổn thương xương sớm.

Khi đã có chẩn đoán, việc điều trị sẽ bao gồm thuốc kháng viêm giảm đau nhưng kết quả không khả quan mấy. Có rất nhiều phương pháp mổ xẻ nhằm mục tiêu cứu vãn chỏm xương đùi, động tác đơn giản nhất là khoan giải áp, phức tạp hơn có thể ghép xương xốp sau khi khoan, ghép mào chậu có cuống mạch hay xương mác có cuống mạch, nghĩa là bác sĩ sẽ khoan 1 đường hầm giải áp trong chỏm xương đùi, sau đó sẽ dùng một miếng xương có mạch máu nuôi đi theo đặt vào trong chỗ đường hầm với hy vọng là chỏm xương đùi sẽ có máu nuôi và sống lại. Lý thuyết là như thế nhưng kết quả khá hạn chế. Tuy nhiên, người ta vẫn tiến hành vì mục tiêu cứu lấy chỏm xương đùi.

Khi chỏm xương đùi đã hư hoàn toàn thì biện pháp cuối cùng để giải thoát cho bệnh nhân khỏi cơn đau và sự tàn phế là thay khớp háng. Thay khớp háng giúp bệnh nhân đi lại dễ dàng, không đau. Tuy nhiên, việc gì cũng có mặt trái của nó. Điều đầu tiên là khớp háng nhân tạo không thể tốt hơn chỏm xương đùi thật, bệnh nhân sẽ không được phép ngồi xổm hay bắt chéo chân, nguy cơ có thể bị trật khớp háng mặc dù có nhiều nỗ lực nghiên cứu từ các hãng dụng cụ để giảm thiểu tình trạng này. Thứ đến khớp háng nhân tạo có một tuổi thọ nhất định, sau một thời gian 10-15 năm sau khớp hư thì phải thay lại. Việc thay lại sẽ rất khó khăn và tốn kém do xương bị hư nhiều. Người mang khớp háng nhân tạo cũng giống như mang van tim nhân tạo cũng phải tránh để bị nhiễm trùng ở da, răng, miệng hay những nơi khác, vì khi đó vi khuẩn sẽ bám vào khớp háng nhân tạo gây ra nhiễm trùng và như thế thì rất tồi tệ.

Vì những biến chứng trên mà các bác sĩ cố gắng kéo dài thời gian sử dụng chỏm xương đùi thật càng lâu càng tốt, cho đến khi không còn cách nào khác thì sẽ thay chỏm. Ở nước ngoài, bệnh nhân được bảo hiểm trả nhưng ở Việt Nam thì việc thay khớp háng sẽ là một gánh nặng cho bệnh nhân vì giá khá cao. Tốt nhất có lẽ nên… bớt nhậu để giảm bớt nguy cơ hoại tử chỏm xương đùi và cũng là một trong những cách tiết giảm chi tiêu trong tình hình khủng hoảng kinh tế như hiện nay.

(Theo SKDS)

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Nhân viên văn phòng tránh đau vai cổ

Hầu như nhân viên văn phòng nào cũng từng bị nhức mỏi vùng cổ. Đau vai cổ ở nhân viên văn phòng thường được bác sĩ chẩn đoán là đau "cơ năng".

Cảm giác đau có thể lan lên vùng gáy hoặc lan xuống phía sau hai bả vai. Nguyên nhân chủ yếu là do một hay nhiều nhóm cơ làm việc quá sức dẫn đến co thắt cơ và gây đau, hay gặp ở người thường xuyên phải cúi đầu tới trước, xoay đầu qua lại, cúi đầu lên xuống nhiều lần.Thỉnh thoảng một số người còn bị "trẹo cổ", nhất là trong môi trường quá lạnh: đầu bị ngoẹo qua một bên, rất đau và khó quay đầu thẳng trở lại. Thói quen lắc cổ nghe "rốp rốp" khi bị nhức mỏi cũng có thể gây ra những chấn thương nhỏ, rách gân  – cơ – dây chằng vùng cổ, gây đau kéo dài.

Đa số trường hợp đau cổ "cơ năng" tự khỏi sau vài ngày. Nhưng cái khó là các nhân viên vẫn  làm những công việc đó, cùng những động tác đó nên bị đi bị lại nhiều lần. Về lâu dài có thể chuyển sang tình trạng thoái hóa cột sống cổ, chèn ép rễ thần kinh gây tê tay.

Tránh tư thế xấu

Việc ghi chép, xem giấy tờ thường phải cúi đầu tới trước. Có thể hạn chế bớt bằng cách cầm giấy tờ cần xem lên gần ngang tầm mắt để tránh mỏi cổ, thỉnh thoảng ngẩng đầu một lúc về tư thế trung tính khi phải viết nhiều. Tư thế tự nhiên là cằm hơi nâng lên, trục người tương đối thẳng đi qua lỗ tai – vai – hông.

Vị trí đặt máy vi tính rất quan trọng. Dù màn hình lớn hay nhỏ cũng nên đặt đỉnh màn hình ngang tầm mắt hoặc hơi thấp hơn một chút. Khoảng cách đến màn hình từ 60-80 cm là thích hợp với đa số người sử dụng. Bàn phím không nên để quá thấp làm mỏi nhóm cơ nâng vai. Những người không thuộc lòng bàn phím nên bố trí bàn phím gần màn hình để tránh phải cúi ngẩng đầu lên xuống nhiều lần.

Bài tập nhóm cơ vai cổ

1. Bắt đầu bằng cách xoa ấm bằng tay không rồi tập dẻo cơ cổ. Bạn thả lỏng và nghiêng đầu ra trước, hít chầm chậm vào giữ vài giây, thẳng đầu trở lại rồi thở ra. Tiếp tục với các hướng phía sau, phải, trái. Chú ý hơi nghiêng người theo từng động tác cho tư thế tự nhiên hơn và đừng gồng cơ (hình 1).

(Hình 1)

2. Giữ thẳng đầu, cố gắng cúi tới trước trong khi tay chống lại trước trán ngăn cho đầu không nhúc nhích. Thực hiện tương tự với phía sau, phải, trái. Bạn chỉ cần dùng một lực vừa phải và giữ trong năm giây cho mỗi động tác (hình 2).

(Hình 2)

3. Tay giữ một bên mặt, ngăn không cho đầu xoay qua hướng đó và giữ trong 5 giây. Sau đó đổi bên.

Nếu bạn sử dụng dầu nóng hoặc mátxa mạnh tay có thể làm bầm dập, chảy máu trong cơ gây co thắt cơ vai cổ nhiều hơn. Lạm dụng dầu nóng cũng dễ bị viêm da phản ứng. Xin dùng túi chườm ấm, túi nước ấm hoặc ngâm ấm sau nhiều giờ ngồi làm việc lâu. Cuối cùng nên hạn chế đeo túi xách nặng quá 3kg và luôn giữ ấm cơ thể.

(Bs TôMinhChâu – Hội Y học thể thao TP.HCM)

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

Người cao tuổi và bệnh loãng xương

Người cao tuổi phải đối đầu với vấn đề giảm sút sức khỏe và có nguy cơ mắc khá nhiều bệnh lý, đặc biệt là bệnh loãng xương (LX). LX hiện là vấn đề sức khỏe cộng đồng. Số người bị bệnh LX ngày càng tăng trên khắp thế giới, đặc biệt người Việt Nam với chế độ ăn nghèo canxi nên nguy cơ bị LX tăng cao. Ước tính trung bình có 1/3 phụ nữ và 1/5 nam giới trên thế giới bị LX.

Nguyên nhân gây LX

Bệnh LX thông thường do một số nguyên nhân gây nên như: suy giảm hormone sinh dục gặp ở phụ nữ tuổi mãn kinh; do chế độ ăn không cung cấp đủ canxi hoặc cơ thể không hấp thu được canxi như: ăn uống kiêng cử kéo dài, chế độ ăn nghèo nàn, kém chất lượng; do mắc một trong các bệnh hoặc yếu tố nguy cơ: bệnh tuyến thượng thận, cường giáp trạng, suy thận mãn tính, bệnh yếu liệt chi hoặc do chấn thương phải nằm bất động lâu dài; do lạm dụng thuốc có corticoid trong thời gian dài…

Bổ sung thêm sữa hàng ngày để phòng LX.

Triệu chứng

Quá trình bệnh LX diễn ra âm thầm và có thể trong suốt một giai đoạn dài, người bệnh không có triệu chứng gì. Tuy nhiên, khi có triệu chứng thì thường là bệnh đã nặng. Đau cột sống lưng hoặc cột sống thắt lưng cấp tính xảy ra, do nén cột sống đột ngột sau một gắng sức nhẹ. Lún đốt sống, gù còng, nứt hoặc gãy cổ xương đùi, xương cẳng tay, cổ tay xảy ra sau một va chạm mạnh hay chấn động nhẹ…

LX làm giảm chất lượng cuộc sống

Giảm mật độ xương và LX có thể gây đau lưng, đau chân tay, các khớp và mỏi bại hông và dễ dàng bị gãy xương do té ngã. Mỗi 30 giây, trên thế giới có 1 người bị gãy xương do LX. Người ta dự đoán đến năm 2050, các nước châu Á trong đó có Việt Nam sẽ chiếm 50% trường hợp tàn phế hoặc đe dọa tính mạng do gãy khớp háng vì LX.

Người cao tuổi bị gãy xương dễ tử vong và mắc nhiều bệnh sau gãy xương như: viêm đường hô hấp, tiết niệu, tiêu hóa… và bị di chứng phải có người trợ giúp suốt đời.

Biện pháp hạn chế LX

Tăng thêm thức ăn giàu canxi: việc bổ sung canxi vào thức ăn hoặc sử dụng nguồn thức ăn giàu canxi (như: sữa và các chế phẩm từ sữa…) là rất cần thiết. Người cao tuổi cần nhiều lượng canxi hơn người trẻ, vì độ hấp thu của họ kém hơn.

Lượng protein trong khẩu phần ăn hàng ngày nên vừa phải, vì ăn nhiều protein sẽ làm tăng bài xuất canxi theo nước tiểu.

Ăn thêm nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen thực vật (như giá đỗ…), vì chúng có tác dụng làm thay đổi sự chuyển hóa của xương: chúng làm giảm tốc độ mất xương và làm tăng khoáng chất trong xương.

Phải tăng cường thời gian hoạt động (hoặc tắm nắng…) để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể.

Hoạt động thể lực vừa phải, không nghiện rượu và duy trì cân nặng hợp lý, vì gầy cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh LX.

Đặc biệt ở phụ nữ giai đoạn mãn kinh, có thể dùng liều estrogen (theo chỉ dẫn của bác sĩ) để phòng LX hoặc dùng canxitone thay thế, vì nó ức chế hoạt động của tế bào tiêu xương và ngăn cản chất xương bị hấp thụ.

Nhu cầu canxi hàng ngày của người cao tuổi là 1.200mg canxi. Các thực phẩm như: rau, cá, thịt, đậu hũ, tôm, cua… mà bạn ăn hàng ngày cung cấp cho bạn khoảng 300mg canxi. Như vậy, bạn cần phải bổ sung thêm khoảng 900mg canxi từ sữa và các sản phẩm sữa.

Biện pháp phát hiện LX

Để phát hiện sớm bệnh LX nếu có điều kiện các bạn cần khám sức khỏe định kỳ. Bác sĩ sẽ cho bạn làm một số xét nghiệm để phát hiện sớm bệnh LX và theo dõi tiến triển của bệnh, trong điều kiện hiện nay có thể làm 2 xét nghiệm là:

1. Chụp X-quang xương sống và xương tay chân, đây là xét nghiệm rẻ tiền và dễ thực hiện ở cơ sở y tế nào cũng có. Nhưng có hạn chế là khi thấy được LX trên phim X-quang thì bệnh đã trong giai đoạn muộn, xương đã bị mất khá nhiều.

2. Xét nghiệm đo mật độ xương, giúp đánh giá được khối lượng xương có thể phát hiện LX sớm hơn.

Ngoài ra, để khảo sát bệnh hoặc tìm nguyên nhân, bác sĩ có thể cho làm thêm nhiều xét nghiệm khác.

(Theo SK&ĐS)

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2012

Người gãy xương có nên ăn nhiều xương?

Tôi bị gãy xương cẳng tay do tai nạn lao động đã bó bột hơn 10 ngày nay. Nghe nói ăn nhiều xương thì nhanh liền vết gãy phải không, thưa bác sĩ?

Gãy xương thường gặp do chấn thương như: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, đánh nhau, bị ngã… Nhiều người cho rằng gãy xương mà ăn nhiều xương thì vết gãy mau liền theo kiểu "ăn gì bổ nấy", nhưng thực hư thế nào thì chưa ngã ngũ. Ở chiều ngược lại, có ý kiến cho rằng người bị gãy xương mà ăn nhiều xương chưa chắc vết gãy có mau liền, bởi ăn nhiều xương lượng canxi và phospho tăng cao do hấp thu từ thức ăn sẽ làm cho thành phần vô cơ trong xương của bệnh nhân tăng lên, gây mất cân bằng giữa tỉ lệ chất vô cơ và hữu cơ làm cho vết gãy lâu liền. Thực tế khi bị gãy xương, sự tái sinh của xương chủ yếu dựa vào màng và tủy xương, mà màng và tủy xương chỉ gia tăng hoạt động trong điều kiện chất keo của xương và nguyên liệu tạo xương được tăng lên. Vì vậy bạn muốn mau liền vết gãy thì cần điều trị sớm, cố định đúng, dùng thuốc hợp lý và phải rèn luyện chức năng của chi gãy, thực hiện chế độ dinh dưỡng cân bằng, đầy đủ các chất: đạm gồm thịt, cá, trứng, sữa; đường gồm cơm, cháo, ngô, khoai, đậu các loại; mỡ động vật và dầu thực vật; vitamin và yếu tố vi lượng có nhiều trong rau, củ, trái cây, gia vị… để cơ thể chuyển hóa thành chất keo xương và nguyên liệu tái tạo xương. Tuy nhiên thỉnh thoảng ăn món xương hầm cũng tốt nhưng không nên ăn nhiều.

(Theo SK&ĐS)

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Người đàn ông có xương “thủy tinh”

Nếu chỉ nhìn bề ngoài, Jeremy Miller, một người đàn ông Anh quốc, 46 tuổi, trông rất vạm vỡ và khỏe mạnh. Ít ai ngờ rằng, Jeremy bị bệnh loãng xương từ năm 39 tuổi.

"Tôi không biết mình bị chứng loãng xương cho đến khi tôi 39 tuổi" – Jeremy, một bác sĩ thú y đang sống trên hòn đảo Jersey, cho biết. Jeremy đã bị gãy một xương sườn do va chạm với con trai trong khi cùng nhau chơi bóng đá. Một năm sau đó,  anh lại bị gãy thêm một xương sườn khi chơi đấu vật với con gái.

Jeremy chỉ bắt đầu nghĩ tới chứng loãng xương khi một lần cúi người qua lan can và cảm thấy tiếng "rắc" từ xương sườn. Sau đó, Jeremy được bác sĩ riêng yêu cầu đi chụp X-quang xương. Kết quả, anh bị chứng loãng xương cột sống.

"Các bác sĩ nói tôi bị vấn đề ở lưng," Jeremy nói, "Tôi bắt đầu điều trị bằng thuốc, uống thuốc mỗi tuần 1 lần và đã thấy khá hơn nhiều".

"Mọi người thường ngạc nhiên khi biết tôi bị chứng loãng xương vì trông tôi rất khỏe mạnh và lạc quan. Tôi vẫn tham gia cuộc thi chạy hàng năm quanh hòn đảo Jersey, với độ dài 78 km. Tôi cũng là một chuyên gia chơi tennis trên hòn đảo này." Jeremy kể.

Chứng loãng xương thường gặp ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh. Tuy nhiên, chứng bệnh này xảy ra đối với đàn ông ngày càng nhiều. Tại Anh quốc, cứ 5 người đàn ông trên 50 tuổi thì có một người có triệu chứng loãng xương.

"Gần đây, chứng loãng xương ngày càng gia tăng ở đàn ông", giáo sư David Reid – chuyên gia về bệnh thấp khớp, Chủ tịch Hiệp hội Loãng xương quốc qia Anh, cho biết. "Chứng bệnh này rất ít gặp cách đây 30 năm. Lối sống ít vận động của chúng ta có thể là nguyên nhân làm gia tăng chứng loãng xương", ông David Reid cho biết.

Hiện nay, tại Anh quốc, hơn 3 triệu người được chẩn đoán bị loãng xương. Ước tính, Chính phủ và hệ thống Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS) phải tốn 6 triệu bảng/ ngày cho chứng bệnh này.

Theo các bác sĩ, những người như Jeremy – có mẹ bị nghiện thuốc và rượu – thường có nguy cơ mắc chứng loãng xương cao.

Ngoài ra, một số loại thuốc như: Corticosteroid dùng để điều trị bệnh hen suyễn và bệnh viêm khớp mãn tính; antiepileptic và một số loại thuốc điều trị ung thư tuyến tiền liệt cũng làm tăng nguy cơ bị chứng loãng xương.

Chứng loãng xương có thể được điều trị bằng bisphosphonates, một loại thuốc giúp tăng mật độ chất khoáng trong xương và giúp xương chắc khỏe hơn. Ngoài ra, những người đàn ông có nồng độ nội tiết tố sinh dục thấp có thể điều trị bằng testosterone, một loại kích thích tố sinh dục nam.

Theo Sarah Leyland, một y tá lâu năm của Hiệp hội Loãng xương quốc gia, các biện pháp phòng loãng xương bao gồm: Tập thể dục thường xuyên, bổ xung canxi và phơi nắng để bổ xung Vitamin D.

(Theo Mail Online)

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2012

Người cao tuổi và bệnh loãng xương

Người cao tuổi phải đối đầu với vấn đề giảm sút sức khỏe và có nguy cơ mắc khá nhiều bệnh lý, đặc biệt là bệnh loãng xương.

Nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ gây loãng xương

Bệnh loãng xương thông thường do một số nguyên nhân gây nên như: Suy giảm hormone sinh dục gặp ở phụ nữ tuổi mãn kinh; do chế độ ăn không cung cấp đủ canxi hoặc cơ thể không hấp thu được canxi như ăn uống kiêng cữ kéo dài, chế độ ăn nghèo nàn, kém chất lượng; do mắc 1 trong các bệnh hoặc yếu tố nguy cơ: bệnh tuyến thượng thận, cường giáp trạng, suy thận mãn tính, bệnh yếu liệt chi hoặc do chấn thương phải nằm bất động lâu dài; do lạm dụng thuốc có corticoid trong thời gian dài…

Triệu chứng

Quá trình bệnh loãng xương diễn ra âm thầm và có thể trong suốt một giai đoạn dài, người bệnh không có triệu chứng gì. Tuy nhiên, khi có triệu chứng thì thường là bệnh đã nặng. Đau cột sống lưng hoặc thắt lưng cấp tính, xảy ra do nén cột sống đột ngột sau một gắng sức nhẹ. Lún đốt sống, gù còng, nứt hoặc gãy cổ xương đùi, xương cẳng tay, cổ tay xảy ra sau một va chạm mạnh hay chấn động nhẹ…

Loãng xương làm giảm chất lượng cuộc sống

Giảm mật độ xương và loãng xương có thể gây đau lưng, đau chân tay, các khớp và mỏi bại hông và dễ dàng bị gãy xương do té ngã. Mỗi 30 giây, trên thế giới có 1 người bị gãy xương do loãng xương. Người ta dự đoán đến năm 2050, các nước châu Á trong đó có Việt Nam sẽ chiếm 50% trường hợp tàn phế hoặc đe dọa tính mạng do gãy khớp háng vì loãng xương trên thế giới. Người cao tuổi bị gãy xương dễ tử vong và mắc nhiều bệnh sau gãy xương như: viêm đường hô hấp, tiết niệu, tiêu hóa… và bị di chứng phải có người trợ giúp suốt đời.

Giảm mất xương bằng các biện pháp sau

Tăng thêm thứuc ăn giàu canxi: việc bổ sung canxi vào thức ăn hoặc sử dụng nguồn thức ăn giàu canxi (như sữa và các chế phẩm từ sữa…) là rất cần thiết. Người cao tuổi cần nhiều lượng canxi hơn người trẻ, vì độ hấp thu của họ kém hơn. Lượng protein trong khẩu phần ăn hàng ngày nên vừa phải, vì ăn nhiều protein sẽ làm tăng bài xuất canxi theo nước tiểu.

Ăn thêm nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen thực vật (như giá đỗ…), vì chúng có tác dụng làm thay đổi sự chuyển hóa của xương: chúng làm giảm tốc độ mất xương và làm tăng khoáng chất trong xương.

Phải tăng cường thời gian hoạt động (hoặc tắm nắng…) để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể.

Hoạt động thể lực vừa phải, không nghiện rượu và duy trì cân nặng hợp lý vì gầy cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh loãng xương.

Đặc biệt ở phụ nữ giai đoạn mãn kinh có thể dùng liều estrogen (theo chỉ dẫn của bác sĩ) để phòng loãng xương hoặc dùng canxitone thay thế, vì nó ức chế hoạt động của tế bào tiêu xương và ngăn cản chất xương bị hấp thụ.

Làm thế nào để phát hiện sớm loãng xương

Trong điều kiện hiện nay có thể làm 2 xét nghiệm là:

- Chụp X-quang sống và xương tay chân. Đây là xét nghiệm rẻ tiền và dễ thực hiện ở cơ sở y tế nào cũng có.

Nhưng có hạn chế là khi thấy được loãng xương trên phim X-quang thì bệnh đã trong giai đoạn muộn, xương đã bị mất khá nhiều.

- Xét nghiệm do mật độ xương giúp đánh giá được khối lượng xương có thể phát hiện loãng xương sớm hơn.

Ngoài ra, để khảo sát bệnh hoặc tìm nguyên nhân bác sĩ cũng cần làm thêm nhiều xét nghiệm khác

(Theo SKDS)

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

Một kiểu đau có thể do nhiều bệnh

Sau khi đọc bài "Ba vùng khớp đau", nhiều bạn đọc viết thư hỏi rằng bệnh có biểu hiện giống như mô tả nhưng điều trị hoài không dứt, hoặc liệt kê thêm một số biểu hiện khác vùng gan chân như tê, rát bàn chân…

Thật ra khi chúng tôi mô tả triệu chứng của một bệnh đó là những bệnh lý điển hình. Tuy nhiên cuộc đời không đơn giản như vậy, trong bệnh lý viêm cân gan chân một số trường hợp một nhánh thần kinh gan chân ngoài bị kẹt ở vùng này gây đau và gây các triệu chứng về thần kinh.

Mặt khác, nguyên nhân gây đau vùng gót chân có thể có nhiều điều khác, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, thoái hóa khớp, viêm cân gan chân trên bệnh nhân đái tháo đường thường kèm theo bệnh lý thần kinh ngoại biên gây tê rát bàn chân hoặc đôi khi không biết nguyên nhân. Viêm chỗ bám gân gót có thể kèm theo viêm các túi hoạt dịch vùng sau xương gót hay sau gân gót. Trong những trường hợp này nếu điều trị can thiệp ngoại khoa (tức là mổ xẻ) cần lấy bỏ cả các túi hoạt dịch bị viêm này. Gọi chung dưới tên đau vùng gót chân để chỉ sự bất lực của y khoa trong việc định danh một cách chính xác các nguyên nhân gây đau.

Những trường hợp bất trị với các phương pháp điều trị nội khoa có thể sử dụng phương pháp phẫu thuật, bao gồm kích thích gan chân, gót chân bằng sóng radio, cắt 2/3 cân gan chân có hay không có kèm theo việc giải phóng thần kinh gan chân ngoài. Tuy nhiên, không thể có kết quả tốt 100% cho tất cả trường hợp. Hơn nữa việc phẫu thuật sẽ làm bạn nghỉ ít nhất 4-6 tuần. Quan trọng nhất là phẫu thuật viên khám được bệnh nhân và làm các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán chính xác bệnh, khi đó phương án điều trị tối ưu sẽ áp dụng.

Đối với việc khám bệnh, các bạn có thể liên hệ với các bệnh viện (BV) ở TP.HCM có khoa chấn thương chỉnh hình hay cơ xương khớp như BV Chợ Rẫy, BV Chấn thương chỉnh hình, BV Nhân Dân 115, BV Nhân Dân Gia Định, BV Đại học Y dược cơ sở 1… Đối với phương pháp điều trị bằng radiofrequency, các bạn có thể liên hệ BV Chấn thương chỉnh hình, BV Đại học Y dược cơ sở 1. Ở phía Bắc, các bạn có thể liên hệ BV 108, BV 19-8.

Những biểu hiện như đã mô tả của bệnh lý chóp xoay cũng có những nét tương đồng với các cơn đau do mỏi cơ cổ, thoái hóa cột sống cổ gây bệnh lý chèn ép thần kinh vùng cột sống cổ, hội chứng cơ nâng vai… Sự khác nhau đôi khi không quá nhiều, do vậy bác sĩ cần khám bệnh nhân và cho làm các xét nghiệm chẩn đoán để phân biệt bệnh lý nào, từ đó sẽ có phương pháp điều trị tối ưu.

Ngay cả khi có bệnh lý viêm gân mãn tính vùng chóp xoay thì việc xác định gân ở giai đoạn viêm hay rách rất quan trọng để từ đó quyết định phương pháp điều trị. Tại TP.HCM, bạn có thể liên hệ với khoa chi trên BV Chấn thương chỉnh hình, khoa cơ xương khớp BV Đại học Y dược cơ sở 1 là nơi có thể thực hiện các phẫu thuật nội soi khớp vai và các khớp khác. Ở miền Bắc là BV 108, BV 19-8.

(Theo TTO)

Muối – Kẻ thù số 1 của bệnh loãng xương

Muối không chỉ gây nên những tác hại cho thận mà còn là "kẻ thù" của chứng bệnh loãng xương.

Muối

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những phụ nữ trong giai đoạn tiền mãn kinh nếu trong chế độ ăn uống của họ có chứa một lượng lớn muối thì sẽ tăng nguy cơ bị "thất thoát" hàm lượng khoáng chất trong xương so với những chị em phụ nữ khác cùng độ tuổi.

Chính vì thế, các chuyên gia thuộc Viện Lão Khoa Hoa Kỳ khuyến cáo rằng mỗi ngày bạn chỉ nên thu nạp không quá 2.300 gam muối, nhưng điều này cũng không có nghĩa là bạn nên "kiêng" hẳn việc ăn muối, mà hãy ăn muối một cách hạn chế.

Để giúp cho bộ xương luôn chắc khỏe, giảm nguy cơ bị loãng xương thì trong chế độ ăn uống thường ngày bạn nên quan tâm chú trọng tới việc bổ sung hàm lượng canxi và vitamin D. Vitamin D được xem như một chất "xúc tác" giúp cơ thể dễ dàng hấp thụ canxi.

Về liều lượng canxi cơ thể cần mỗi ngày được các chuyên gia khuyến cáo như sau:

- Người trên 50 tuổi nên bổ sung 1.000 mg canxi mỗi ngày, điều này tương đương với 240 gam sữa tươi.

- Những người lớn tuổi hơn cần bổ sung 1.200 mg canxi – tương đương với 1,5 cốc sữa tươi.

Vitamin D

Những người ở độ tuổi 50 cần 200 đơn vị IU vitamin D.

Những người ở độ tuổI 51 – 70 cần 400 đơn vị IU vitamin D.

Những người trên 70 tuổi cần 600 đơn vị IU vitamin D.

Cũng theo các chuyên gia nguồn Vitamin D dồi dào mà bạn có thể dễ dàng tìm kiếm được đó chính là từ ánh nắng mặt trời buổi sáng sớm, sữa tươi, lòng đỏ trứng gà, gan.

Một số loại nước giải khát

Nhiều loại nước giải khát có chứa axit photphoric chính là nguyên nhân khiến cho hàm lượng canxi bị đào thải nhiều qua đường nước tiểu, gây nên chứng bệnh loãng xương.

Cho nên các chuyên gia khuyên bạn nên hạn chế sử dụng các loại nước uống có chứa hàm lượng photphoric cao. Thay vào đó, bạn có thể uống bổ sung các loại nước quả, sữa tươi, sữa chua …

Tránh xa đồ uống có chứa caphein. Một cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng, nếu bạn thu nạp 100 mg caphein thì sẽ bị "thất thoát" ra bên ngoài 6 mg canxi.

Protein

Loại protein gây hại cho xương là loại protein có nguồn gốc từ động vật. Loại protein này không những không đem lại tác dụng cho xương mà còn gây ra những tác động không mong muốn.

Tuy nhiên, trong thành phần cấu tạo của bộ xương lại có tới 50% là protein, nên theo ý kiến của các chuyên gia, bạn vẫn nên bổ sung hàm lượng protein nhưng có chừng mực theo tiêu chí như sau:

Đối với nam và nữ trên 19 tuổi nên thu nạp 0,8gram protein tính theo 1 kg trọng lượng cơ thể. Điều này đồng nghĩa rằng nếu phụ nữ nặng khoảng 68kg thì cần 55 gram protein và khoảng 64 gram cho nam giới có trọng lượng cơ thể 77 kg.

Các loại thực phẩm tập trung nhiều protein như cá ngừ (85gram cá ngừ có chứa 22 gram protein), cá hồi (85 gram cá hồi chứa 19 gram protein), sữa chua không béo (trong 226 gram sữa chua có 13 gram protein). Trung bình trong một quả trứng có 6 gram protein.

Chế độ ăn giúp ngừa loãng xương

Để phòng tránh nguy cơ bị loãng xương không khó như bạn vẫn tưởng.

Chỉ đơn giản trong chế độ ăn uống mỗi ngày bạn hãy bổ sung thêm các loại thực phẩm giàu canxi, có trong các loại sữa, trứng, rau có lá màu xanh sẫm, rau bina. Tuy nhiên, bạn nên nhớ hãy hạn chế nêm muối vào các món ăn, vì muối chính là "kẻ thù" của bệnh loãng xương.

Muốn cắt giảm lượng muối thu nạp vào cơ thể bạn cần chú ý:

- Nên cho gia vị vào giai đoạn cuối của quá trình nấu ăn.

- Hạn chế dùng muối, thay vào đó hãy dùng các gia vị khác như hạt tiêu, hành, tỏi, gừng.

- Nếu ăn mì tôm không nên dùng hết gói gia vị.

- Đừng nên cho muối vào khi rán cá.

Thêm vào đó, cũng cần kết hợp với việc luyện tập thường xuyên và đều đặn. Nếu quỹ thời gian của bạn eo hẹp, bạn cũng nên luyện tập ít nhất 3 ngày trong một tuần, với tổng thời gian tương đương là 90 phút/tuần. Xin nhấn mạnh thêm rằng, việc luyện tập diễn ra càng đều đặn và thường xuyên càng đem lại rất nhiều ích lợi cho sức khoẻ của bạn.

(Theo VTC)

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

“Mổ xẻ” chứng tê

Những căn bệnh nguy hiểm thường được biểu hiện từ những dấu hiệu rất nhỏ – đó đơn giản có thể chỉ là chứng tê.

Tê, theo định nghĩa thông thường là "kiến bò bắp thịt", theo định nghĩa của học sinh là "ngồi học quá lâu", còn theo dân văn phòng – đối tượng chính thường gặp triệu chứng này – là chịu đựng sếp trong phòng họp.

Có thể giải thích tốt nhất về cơ chế hoạt động của chứng tê dựa trên nguyên tắc ôxy nuôi tế bào. Khi mạch máu bị chẹn, máu không lưu thông, các tế bào thiếu ôxy sẽ co giật và tê. Tê trong trường hợp này là tê lành và có thể giải quyết đơn giản bằng cách xoa bóp, duỗi thẳng tay chân để mạch máu được lưu thông.

Tê lành cũng xuất hiện nhiều trong một vài giai đoạn trong đời người phụ nữ như khi có thai, tuổi mãn kinh hoặc đơn giản cơ thể giữ nước do uống thuốc biến chuyển các hormone. Thỉnh thoảng, tê cũng tấn công những người có sức khỏe yếu, ăn quá nhiều thức ăn giàu cholesterol. Nếu bạn vô tình gặp cảm giác kiến bò, tê tay chân khi bồn chồn, lo lắng, thì đó là do nhịp tim đập nhanh quá mức, cơ thể bị "hụt" lại. Bằng cách này hay cách khác, hãy cố tập trung điều hòa lại nhịp thở, hãy cố thở từ từ, hít hơi dài, sâu, hạn chế những bước thở ngắn dễ làm tim thêm mệt.

Trái ngược với tê lành, tê ác là dấu hiệu của rất nhiều căn bệnh nguy hiểm như khớp, và tiểu đường. Vì vậy tốt nhất không nên coi thường các triệu chứng tê tay, chân, cơ xảy ra bất thường trong một thời gian dài. Nếu bạn cảm thấy tê và đau dọc xuống phía sau bắp chân, đó rất có thể là dấu hiệu của bệnh đau thần kinh hông do trật địa đốt sống. Tốt nhất, dừng ngay việc mang vác vật nặng, và đến bác sỹ để tìm giải pháp chữa trị hợp lý nhất – trong đó không thể không nhắc đến phương pháp nắn gân và trị liệu bằng kim châm.

Nếu hai bàn tay bạn khi gặp lạnh bị chuyển màu: trắng bệch, tím tái và cuối cùng là đỏ ửng, đi kèm với những triệu chứng như da tay bị tê và mất cảm giác (đặc biệt khi máu lưu thông trở lại bình thường), da có triệu chứng đau nhức, thì xin chia buồn: bạn đã mức chứng rối loạn tuần hoàn có tên y học là Raynaud.

Bệnh này có nguyên nhân cơ bản là các mạch máu ở bàn và ngón tay quá nhạy cảm với nhiệt độ thấp. Theo sự giải thích của các bác sĩ khớp: bình thường khi tay lạnh, các động mạch co lại để giảm lượng máu dẫn tới da, ngăn ngừa việc nhiệt độ cơ thể hạ quá thấp. Ở người mắc Raynaud, các động mạch dẫn máu có xu hướng co thắt mạnh hơn khiến máu không lưu thông được, da chuyển màu và trở nên mất cảm giác hoàn toàn.

Người ta thường gặp hiện tượng Raynaud ở các phụ nữ trẻ đã trưởng thành. Đó có thể do bệnh cứng bì gây ra bởi các chất kháng thể tấn công các hệ cơ quan theo trạng thái lành tính nhưng khá dai dẳng. Raynaud đôi khi cũng xuất hiện ở những người bị thoái hóa đốt sống vùng bổ, khiến các dây thần kinh giao cảm cung ứng cho cánh tay và các mạch máu bị chèn ép.

Với chứng Raynaud này, bác sỹ sẽ kê toa cho bạn những loại thuốc giãn mạch giúp mạch máu giãn nở hoặc giải phẫu để cắt một số dây thần kinh nhất định. Tuy nhiên, các loại thuốc giãn mạch dễ gây hạ huyết áp nên chỉ sử dụng khi người bệnh gặp chứng tê rối loạn tuần hoàn quá nặng cần can thiệp.

Một căn bệnh nguy hiểm khác có biểu hiện bằng chứng tê là thiểu năng tuyến giáp – một dạng bệnh thể hiện tình trạng tích tụ chất nhớt ở khớp, xương khiến da bị sưng húp. Hiện tượng này khi xảy ra ở cổ tay, các sợi dây thần kinh, mạch máu chạy qua cổ tay bị ép khiến cho các đầu ngón tay có cảm giác "tê tê say say" như kiến bò.

Nhìn đi, nhìn lại hóa ra tê cũng nguy hiểm! Vì vậy nếu thường xuyên bị tê hoặc thấy có những triệu chứng tê bất thường tốt nhất hãy tới gặp bác sỹ. Bên cạnh đó bạn cũng cần chủ động chăm sóc cơ thể mình bằng các vận động thể dục giải lao khi phải làm việc căng thẳng. Những cử động như xoay cổ tay, khuỷu tay hay đi lại giữa giờ vừa giúp giảm stress vừa có thể nhanh chóng xóa tan chứng tê. Các động tác yoga cũng là một phương pháp hữu hiệu để giúp cơ bắp của bạn dẻo dai chiến đấu lại với chứng tê.

(Theo Sanhdieu)

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012

Mổ lấy ốc vít thêm họa!

Tại sao mổ lấy đinh nẹp ra? Gãy xương nào, tuổi nào mới cần mổ? TS-BS Lương Đình Lâm – nguyên trưởng khoa chấn thương chỉnh hình BV Chợ Rẫy – cho biết:

- Nhiều trường hợp mổ lấy ra vô tội vạ. Đã có trường hợp đáng lẽ không cần mổ lấy ra, nhưng BS vẫn "mổ theo yêu cầu" để lấy một nẹp dài 15cm và sáu vít, BS đục mãi chỉ được ba vít và bẻ lấy một nửa cái nẹp rồi đóng lại! Trên nguyên tắc, với BN trên 16 tuổi thì không có chỉ định mổ lấy đinh, nẹp ra. Do các kim loại này đều được tinh chế nên không ảnh hưởng đến cơ thể.

Mổ lấy ra có thể bị: 1/ xương bám chặt vào không lấy ra được. 2/ mổ lần hai dễ gây nhiễm trùng hơn. 3/ gây sẹo nhiều hơn và gây đau đớn cho bệnh nhân. 4/ có khi làm tổn thương mạch máu, thần kinh. Cho nên với những sẹo cũ trên những gãy hở cũ, theo quy định muốn mổ lần hai là phải được tiêm phòng uốn ván trước khi mổ.

Ở BN dưới 16 tuổi, do xương còn đang phát triển mà một đoạn thì bị nẹp vít cố định, trong khi đoạn kế bên vẫn phát triển sẽ tạo nên một điểm yếu ngay đầu nẹp, khi gặp chấn thương có thể gây gãy xương, vì vậy người ta khuyên nên mổ lấy các phương tiện kết hợp xương, thường những đinh này người ta để lộ ra da để lấy dễ.

* Vậy lý do tại sao nhiều nơi mổ lấy ra?

- Có thể chưa đọc đến quy định chung của Hội Chấn thương chỉnh hình. Đôi khi do BN đòi mổ lấy ra, BS cứ mổ theo yêu cầu mà không giải thích, phân tích đầy đủ cho BN về tác hại của mổ lấy ra. Có BS mổ lấy dụng cụ để làm lại cho BN khác. Trước kia do thiếu thốn đinh nẹp đã đành, nhưng hiện nay vẫn còn nơi có thể làm chuyện này. Đinh nẹp mổ lấy ra là đồ bỏ, nhưng dùng lại cho BN khác và thu tiền.Trong khi BN lại không hề biết chuyện đinh nẹp tái sử dụng có thể dễ gãy do tính "mỏi" kim loại gây nên. Có những bộ cả chục ngàn USD dùng kết hợp xương trong nắn chỉnh vẹo cột sống thì càng không nên mổ lấy ra.

Có người đến phòng mạch tư để rút đinh nẹp ra, nếu thực hiện trong môi trường không đảm bảo vô trùng càng nguy hiểm, có thể gây nhiễm trùng hoặc gặp tai biến trong gây tê, gây mê… mà phương tiện cấp cứu không đủ, không xử lý được có thể làm tử vong.

* Có khi nào chỉ cần bất động xương mà BS lại chỉ định phẫu thuật, vừa gây tốn kém cho BN, lại phải thêm một lần mổ lấy đinh, nẹp ra?

- Nhiều lắm. Ví dụ vừa rồi tại hội thảo có nêu "kinh nghiệm mổ kết hợp xương đòn" trong khi tại BV Chợ Rẫy thì không cần mổ. Đấy là nguồn sống của một số nơi nên bất cứ cái gãy nào vào BV người ta cũng mổ tuốt! Các trường hợp chỉ cần bất động mà không phải mổ như: gãy ngang hai xương cẳng chân mà ít di lệch thì không mổ. Hoặc các gãy khác như gãy cánh tay, cẳng tay, bàn tay ít di lệch, ngón tay, gãy cẳng chân (đầu trên gần khớp gối) ít di lệch, gãy mắt cá ít di lệch, gãy xương bàn, ngón chân ít di lệch thì không mổ.

Đặc biệt là gãy xương mác, xương đòn và xương sườn là không cần mổ để kết hợp xương. Ở nước ngoài chưa bao giờ người ta mổ khi xương mác gãy vì không phải là xương trụ của cẳng chân, để tự liền hoặc cắt bỏ để ghép vào những nơi thiếu xương khác, nhưng ở VN một số nơi vẫn mổ! Tại BV Chợ Rẫy 2/3 số trường hợp gãy xương là được điều trị bảo tồn. Ngay trong các trường hợp đặc biệt của gãy xương đòn, xương sườn tỉ lệ mổ cũng chỉ

Trong bất cứ cuộc mổ nào cũng đều có những nguy cơ. Ngay khi mổ xương đòn cũng có thể gây biến chứng như: gãy đinh, gãy nẹp, trồi đinh, khớp giả… hơn là dùng băng số 8 để điều trị bảo tồn.Nếu mổ rút đinh nẹp ra lại buộc BN phải chịu thêm một cuộc mổ, phải làm đủ các xét nghiệm để mổ – ít ra hai ngày nếu làm nhanh, một ngày mổ, ba ngày để giảm đau hoặc có thể kéo dài hơn tùy người.

Chi phí mổ lấy đinh nẹp ra có khi từ 2-5 triệu đồng tùy BV công hay tư, đó là chưa kể thiệt hại do nghỉ việc, phải có người thân theo chăm sóc… Có trường hợp mổ rút đinh nẹp sớm (do xương chưa liền mà không đánh giá được) gây gãy xương nên phải tháo phương tiện ra, đặt cố định ngoài và chăm sóc vết thương cho đến khi hết nhiễm trùng, đợi khoảng sau một năm mới có thể mổ để kết hợp xương lần sau. Chúng tôi đã gặp trường hợp BN phải mổ đi mổ lại mất bốn năm.

(Theo TTO)

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Ngộ nhận về viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis: RA) cũng giống như các dạng viêm khớp thông thường.

1. Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis: RA) cũng giống như các dạng viêm khớp thông thường.

Thực tế: viêm khớp thông thường có thể do vi trùng, do chấn thương hay phổ biến hơn là viêm xương khớp do sự tiêu hủy lớp sụn đầu xương ở người lớn tuổi. Ngược lại, RA là một tình trạng rối loạn tự miễn, mãn tính. Bệnh do một yếu tố nào đó khởi kích cơ thể tạo ra kháng thể và tấn công vào chính mô của cơ thể như khớp, tim…

2. Chỉ người già mới mắc RA.

Thực tế: ai cũng có thể mắc RA, kể cả trẻ con, nhưng hầu hết bệnh bắt đầu diễn tiến nhiều ở khoảng 30-55 tuổi.

3. Bệnh thường không nghiêm trọng.

Thực tế: RA cần được chẩn đoán và điều trị sớm vì nếu không có thể gây tàn phế và ảnh hưởng đến các cơ quan khác, nhất là tim mạch.

4. Bệnh RA sẽ ngồi xe lăn suốt đời.

Thực tế: RA ảnh hưởng khác nhau tùy theo người, có thể gây tàn phế nhưng nếu được điều trị sớm thì tỉ lệ này sẽ giảm.

5. Bị RA sẽ không thể làm việc.

Thực tế: một số hoạt động hay thói quen có thể bị giới hạn, nhất là bệnh đang trong giai đoạn bùng phát, hầu hết người bị RA vẫn tiếp tục làm việc bình thường.

6. Thuốc điều trị RA nhiều độc tính, do đó đợi bệnh diễn tiến nặng mới điều trị.

Thực tế: dùng thuốc điều trị RA có thể gây tác dụng phụ nhưng hiếm. Nếu không điều trị tác hại sẽ nhiều hơn.

7. Hầu hết bệnh RA sẽ bị ung thư.

Thực tế: không phải ai bị RA sẽ bị ung thư. Những người mắc bệnh RA có tăng nguy cơ bị ung thư máu, tuy nhiên tỉ lệ này nhìn chung thấp. Ngược lại, ở một nghiên cứu cho thấy nguy cơ ung thư đại trực tràng giảm đi 40% ở những người bị RA.

8. Để giảm sự đau nhức hoặc bảo vệ khớp xương, bệnh nhân cần nghỉ ngơi tuyệt đối.

Thực tế: những động tác thể dục nhẹ nhàng giúp các khớp xương hoạt động tốt hơn, trừ khi bị những cơn đau cấp nên hạn chế vận động.

(Theo TTO/Webmd)

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

Ngồi lâu, đứng dậy đau thốn gót

Viêm cân gan chân chẩn đoán không khó. Thông thường bệnh nhân ngủ dậy hay ngồi lâu, đứng dậy bước chân xuống đất thấy đau nhói thốn gót, đi vài bước hay chà xát gan chân một lúc thì đau giảm dần. Tuy nhiên có một số trường hợp nặng có thể đau suốt cả ngày khi đứng hay đi.

Những nguyên nhân thông thường của viêm cân gan chân là viêm khớp dạng thấp, giày dép không phù hợp, chấn thương vùng gót chân do luyện tập thể thao như chạy nhảy trên nền cứng. Ít gặp hơn là tật bàn chân bẹt, bệnh gout, viêm thần kinh gan chân…

Điều trị thuốc uống không giảm, bác sĩ sẽ chích steroid chuyên biệt vào thẳng điểm đau. Liệu pháp này thường cho kết quả tốt. Nếu không giảm hay tái phát nhiều lần có thể cắt một phần cân gan chân, lấy hết mô viêm hay phần vôi hóa trong gân (tạo ra hình ảnh gai xương gót). Thay đổi giày dép và xoa bóp gan chân rất quan trọng trong ngăn ngừa tái phát. Tuy nhiên nó chỉ được xem như biện pháp hỗ trợ thuốc điều trị. Quan trọng nhất là tìm ra nguyên nhân của viêm cân gan chân để loại bỏ yếu tố gây bệnh. Có vậy mới không bị tái phát.

(Theo TTO)

Thứ Ba, 20 tháng 11, 2012

Ngăn chặn tổn thương khớp do bệnh viêm khớp xương mãn tính

Khi bệnh viêm khớp xương mãn tính (Rheumatoid Arthritis-RA) bộc phát, nó làm cho các khớp bị xơ cứng và đau nhức. Sự bất tiện này đôi khi có thể mất đi, nhưng có thể vẫn còn những tổn thương lâu dài. Cuối cùng RA có thể gây tổn hại cho khớp làm cho chúng cũng không hoạt động thậm chí ngay cả khi căn bệnh không diễn biến. Tổn thương khớp xảy ra như thế nào và bằng cách nào có thể ngăn chặn nó?

Các bác sĩ gọi đây thời kì hoạt động của RA. Trong suốt thời gian này, tế bào chống lại sự nhiễm trùng (tế bào bạch cầu) đi vào khớp một cách nhầm lẫn. Không ai biết tại sao nó xảy ra, nhưng rõ ràng là bạch cầu không thuộc về nơi đó.

Bên trong khớp, những tế bào này sinh ra những chất mà chúng thường dùng để tiêu diệt những vi sinh vật xâm nhập-nhưng thực ra lại không có ở đó. Thay vào đó, những chất này lại làm hư hại những tế bào khớp khỏe mạnh. Trong suốt thời kì hoạt động mạnh nhất của bệnh, bạn trải qua những cơn đau nhói-khớp bắt đầu sưng tấy, xơ cứng và đau nhức. Bạn cũng có thể gặp mức hoạt động thấp của bệnh mà khi xảy ra không có cảm giác về triệu chứng nào.

Có 2 cách chủ yếu của quá trình gây tổn thương khớp:

·         Các chất chống nhiễm trùng làm sụn suy yếu dần. Sụn là miếng đệm giữa xương và khớp. Qua thời gian, gây áp lực hay sức nặng lên khớp có thể làm yếu mòn sụn nhiều hơn. Đây gọi là bệnh thoái hóa, và nó xảy ra tương tự như bệnh viêm khớp "thông thường" (bệnh loãng xương)-chỉ xảy ra nhanh hơn ở bệnh nhân RA.

·         Sự viêm bên trong khớp kích thích màng bọc khớp xương (synovium) phát triển và lan rộng ra những chỗ không phải của chúng. Nếu nó kéo dài đủ lâu, nó có thể gây hại cho sụn hoặc xương.

Quy luật đơn giản của ngón tay cái, bệnh hoạt động càng "dài" và càng "mạnh" , tổn thương khớp càng có khả năng xảy ra.

·         Một người bị sưng tấy và xơ cứng khớp mỗi ngày có nhiều khả năng bị tổn thương khớp hơn là một người chỉ bị những triệu chứng này 1 lần/tháng. (Thời gian hoạt động của bệnh)

·         Người bị sưng khớp nhiều có khả năng bị tổn thương khớp hơn là một người chỉ bị sưng ít. (Cường độ hoạt động của bệnh)

Làm sao bạn có thể biết đang chịu tác động của bệnh? Điều này đôi khi lại khó khăn.

·         Bạn có thể cảm thấy đau ở nhiều nơi, nhưng tạm thời vẫn chưa gây hại cho khớp

·         Tổn thương khớp cũng có thể xảy ra mà không có cảm giác đau nào

·         Sưng khớp là một dấu hiệu chắc chắn. Phần lớn, bị sưng khớp là bằng chứng bệnh đang phát triển.

·         Thời gian bị xơ cứng vào buổi sáng mỗi ngày cũng có ích. Tự hỏi bản thân sau khi thức dậy: "Mất bao lâu cho đến khi mình cảm thất thả lỏng như trong ngày?" Bạn cảm thấy cứng nhắc càng lâu, càng có khả năng bệnh RA đang hoạt động.

·         Một dấu hiệu nữa bạn có thể xem xét là "nhũng khớp". Khi màng bọc khớp bắt đầu phát triển bất bình thường, nó có thể cho khớp một cấu trúc mềm xốp. Tình trạng này sẽ duy trì thậm chí khi bạn không bị sưng đau. Nếu bạn cảm thấy điều này đang xảy ra, hãy gặp bác sĩ chuyên khoa về viêm khớp.

Nếu bạn được chẩn đoán bệnh RA, bác sĩ của bạn sẽ thực hiện một cuộc kiểm tra toàn diện về khớp và chụp X-quang và xét nghiệm máu ngay sau đó. Vào những lần sau, bạn sẽ được kiểm tra xem có sự thay đổi nào không, và bác sĩ sẽ chỉ cho bạn thấy những khớp xương có thể bị tổn thương.

Bây giờ bạn đã biết bệnh RA gây tổn thương khớp như thế nào, và nên làm gì, bây giờ bạn cũng nên biết cách ngăn chặn nó.

Vì phép điều trị cho bệnh RA đang đươc cải tiến, nhiều chuyên gia tin rằng những người mắc bệnh ngày nay, theo một nhóm, sẽ phát triển mà ít tổn thương về khớp hơn trước đó. Bạn có thể kiểm soát nó và tận dụng cơ hội của mình.

·         Điều trị sớm. Phần lớn tổn thương khớp trở nên nghiêm trọng về sau bắt đầu sớm sau khi RA được phát hiện. Bạn càng điều trị sớm thì càng ít nguy cơ tổn thương khớp.

·         Điều trị thường xuyên. Những người đi bác sĩ chuyên khoa khớp thường xuyên (đều đặn trong năm) ít bị tổn thương khớp hơn những người không làm như vậy.

·         Tập thể dục! Bạn có thể tập thể dục mà không gây tổn thương cho khớp. Thực tế, chỉ có điều ngược lại là đúng-tập thể dục thường xuyên làm khớp khỏe hơn. Bác sĩ sẽ giúp bạn lập ra một kế hoạch tập thể dục an toàn, hiệu quả, và phù hợp với mức độ thể trạng và tình trạng của cá nhân bạn.

·         Nghỉ ngơi khi bạn cần. Tìm sự cân bằng giữa nghỉ ngơi và tập thể dục rất quan trọng vì vậy bạn đừng nên tập quá mức.

·         Sử dụng một cây nẹp ở phía đối diện của hông hay đầu gối bị đau. Cách này làm giảm sự mài mòn của khớp bị ảnh hưởng.

Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012

Nên dùng thuốc gì?

Tôi năm nay 52 tuổi và bị bệnh gút. Bác sĩ cho tôi uống thuốc mobic, nhưng uống thuốc được mấy ngày thì tôi thấy đau tức bụng, ăn không tiêu. Đi khám bệnh, bác sĩ chẩn đoán thêm bị tăng men gan. Xin cho biết, trường hợp của tôi thì có loại thuốc nào chữa gút phù hợp?

Gút là bệnh rối loạn chuyển hóa dẫn đến tăng acid uric máu. Khi acid uric máu tăng đến một mức độ nào đó (mức độ này thay đổi ở từng cá thể) sẽ bị bão hoà ở dịch ngoài tế bào dẫn đến lắng đọng tại các mô, khớp, thận, gây nên các triệu chứng của bệnh gút. Trước kia điều trị bệnh gút chủ yếu bằng colchicin.Tác dụng của colchicine nhanh, giảm đau trong vòng 48 giờ. Tuy nhiên hay gặp một số tác dụng phụ như tiêu chảy, nôn, đau bụng, do đó cần dùng thuốc giảm nhu động như loperamid hoặc opium để chống tiêu chảy.

Do tác dụng phụ hay gặp trên nên ngày nay, các bác sĩ có xu hướng dùng các thuốc chống viêm không steroid mà mobic bác đã dùng là một trong số đó. Thuốc có tác dụng cắt cơn nhanh trong cơn gút cấp tính, hiệu quả tốt song do có thể gặp một số tác dụng phụ, đặc biệt gây viêm dạ dày nên cần thận trọng khi dùng. Một số tác dụng phụ khác như gây tăng men gan, suy giảm chức năng thận, phù chân.

Trường hợp của bác, bác sĩ cho dùng thuốc mobic với tác dụng cắt cơn gút nhưng bác lại bị tác dụng phụ của thuốc gây đầy trướng bụng, tăng men gan, trước hết nên dừng ngay thuốc và điều trị cho men gan trở lại bình thường, sau đó bác có thể chuyển sang uống colchicin và thuốc kiềm hóa nước tiểu natribacrbonate. Nếu không đáp ứng có thể dùng corticoid ngắn ngày. Tuy nhiên, tốt nhất là bác nên đi khám lại bệnh và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa khớp. Đừng quên tuân thủ chế độ ăn trong bệnh gút và dùng thuốc hạ acid uric máu nếu có chỉ định.

(Theo SK&ĐS)

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Mắc bệnh viêm khớp dễ bị đau tim

Bệnh nhân viêm khớp mãn tính dễ có nguy cơ bị đau tim cao gấp 2 lần so với bình thường. Hãng tin ANI dẫn lời các chuyên gia Mỹ cho biết, nguyên nhân có thể là do chứng viêm sưng của bệnh viêm khớp gây ra.

Ở bệnh nhân viêm khớp, chứng viêm sưng đã kháng lại cơ thể và làm tổn thương khớp cũng như các mô khác. Thể trạng viêm sưng còn làm khởi phát chứng xơ vữa động mạch, tác động đến việc hình thành máu vón cục, tác nhân chính gây đau tim và đột quỵ. Các chuyên gia cho rằng kiểm soát bệnh viêm khớp bằng thuốc trị viêm sưng có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim. Cách tốt nhất để ngừa đau tim vẫn là chú ý đến chế độ ăn uống, cân nặng, tập thể dục, huyết áp và cholesterol.

(Theo thanhnien)

Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2012

Mẹo giúp chữa lành ngón chân gãy

Học viện Phẫu thuật chỉnh hình Hoa Kỳ cung cấp những lời khuyên giúp làm giảm đau và tăng nhanh thời gian chữa lành ngón chân gãy:

. Bất kì tình trạng gãy vỡ nào, được xác nhận hoặc có nghi ngờ, nên được đánh giá bởi một bác sĩ. Cố không đi trên ngón chân gãy đó và giữ không đặt toàn bộ trọng lượng của bạn lên bàn chân nếu bạn có thể càng nhiều càng tốt.

. Đắp một túi chườm nước đá trên ngón chân để giảm thiểu sưng tấy và cơn đau. Bạn phải chắc chắn rằng đá lạnh không tiếp xúc trực tiếp với da bạn, và một lần bạn không nên đặt trên 20 phút.

. Dùng thuốc giảm đau không cần kê đơn như là aspirin hoặc ibuprofen.

. Chọn một đôi giày rộng hơn với đế giày chắn chắn, dễ chịu.

. Không tập thể dục, thể thao hoặc các hoạt động khác cho đến khi ngón chân lành hẳn, đặc biệt các hoạt động có thể gây ra chấn thương. . Bơi lội là một thay thế tốt cho đến khi ngón chân bạn tốt hơn.

(Theo EveryDayHealth)