Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh về cơ xương khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh về cơ xương khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

Người trẻ - chớ coi thường bệnh đau lưng

Đau lưng mỏi gối thường xảy ra ở người già khi bị loãng xương, thoái hóa khớp, nhưng theo ghi nhận tại các bệnh viện, người trẻ đau lưng cũng khá phổ biến. Tuy nhiên, vì “cậy sức trẻ” nên nhiều người lờ đi. Sự chủ quan đó về lâu dài có thể dẫn đến nhiều bệnh lý nguy hiểm và khó điều trị.
Cảnh báo bệnh đau lưng gia tăng ở người trẻ tuổi
Vượt qua nhờ sức trẻ
Khi gắng sức khuân cái vali to kềnh lên cầu thang, bạn đột nhiên thấy đau nhói ngang thắt lưng, hoặc lúc cố đẩy chiếc xe máy lên thềm nhà, bả vai của bạn đột ngột cứng cơ và đau khi cử động. Thường người trẻ bị đau trong một thời gian ngắn.

Đang ngồi ở chiếc ghế bành xem ti vi, bạn đột ngột đứng lên để với tay lấy cái điều khiển trên đầu tủ, nhưng khi ngồi trở lại thì lưng ê ẩm. Triệu chứng này sẽ nhanh chóng mất đi và bạn tiếp tục… xem ti vi.

Bạn là công nhân xây dựng, mỗi ngày đều phải khiêng, vác những vật liệu nặng. Tối về, ăn chưa xong bữa thì cái lưng của bạn đã “đòi” đi nằm vì quá mỏi và đau khi cử động. Nhưng chỉ cần yên vị trên giường thì bạn đã có thể đánh ngay một giấc đến sáng và lại bắt đầu một ngày với công việc quen thuộc.

Bạn là một nhân viên văn phòng, mỗi ngày đều phải ngồi liên tục nhiều giờ trong cùng một tư thế. Cứ đến giữa giờ làm việc là bạn cảm thấy đau và mỏi ở vùng cột sống cổ, thắt lưng và bả vai. Nhưng cảm giác này cũng sẽ nhanh chóng trôi qua do “sức trẻ”.
Bạn dễ dàng chịu đựng những cơn đau nhất thời và lờ nó đi, nhưng đến một ngày, bạn nhận ra chứng đau lưng của mình càng lúc càng trầm trọng và dai dẳng, nó chi phối mọi hoạt động và toàn bộ cuộc sống của bạn.

ThS-BS Hồ Thị Đoan Trinh - Trưởng khoa Điều trị Đau Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương cho biết: nếu loại trừ những bệnh lý gây tổn thương thực thể thì triệu chứng đau cấp tính thường gặp nhất là do ngồi, nằm, đi đứng sai tư thế hoặc chuyển tư thế không đúng cách. Những động tác này lặp đi lặp lại nhiều lần làm biến dạng vùng cột sống, lâu ngày sẽ gây chèn ép rễ dây thần kinh.

Hậu quả của sự chủ quan

Khối cơ lưng và dây chằng luôn đòi hỏi phải vận động để phòng ngừa sự ứ đọng chất trung gian hóa học trong cơ. Ít vận động hoặc vận động không điều độ, cố gắng quá sức và vội vàng thì cơ thể sẽ phản ứng.

Vận động quá mạnh sẽ tác động làm giãn cơ và dây chằng cột sống. Một số động tác không đúng lặp đi lặp lại nhiều lần gây tổn thương đến một vài vị trí đốt sống cố định còn là một trong những yếu tố nguy cơ thúc đẩy nhanh quá trình thoái hóa đốt sống. Thoái hóa đốt sống là một trạng thái tự nhiên trong quá trình lão hóa của cơ thể nhưng thực tế, nhiều người bị thoái hóa cột sống khi tuổi còn rất trẻ.

Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp đau lưng do chế độ ăn uống không phù hợp. Ăn quá no, thức ăn tồn tại ở dạ dày lâu, nếu không vận động sẽ gây chướng bụng, đầy hơi, dẫn đến kéo căng cột sống và căng cơ vùng thắt lưng. Một số bệnh dạ dày như viêm loét vùng tá tràng cũng có thể gây chèn ép dây cột sống thắt lưng.
Theo Phụ nữ tphcm

Bệnh đau lưng - chớ coi thường

Căn bệnh đau lưng đang không ngừng gia tăng và chi phí điều trị thì không hề nhỏ, rất tốn kém .Cơn đau lưng có thể biến mất trong vài ngày, nhưng cũng có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề và gây tàn phế.

Bệnh đau lưng - chớ coi thường
Đau thắt lưng là tình trạng đau ở vị trí 1/3 dưới của lưng. Người bệnh có thể bị đau khu trú một nơi ở giữa cột sống hoặc các điểm cạnh cột sống thắt lưng. Đau nhiều khi lan tỏa sang hai bên.

Đau thắt lưng cấp tính xảy ra đột ngột, dần dần hoặc dữ dội sau khi khiêng, nhấc vật nặng trong tư thế cúi lưng hay các tư thế sai khác, dù là làm việc nhẹ trong văn phòng. Khi tình trạng đau thắt lưng kéo dài trên 2 tháng thì được coi như mạn tính. .

Đau thần kinh tọa là một biến chứng trầm trọng của đau thắt lưng, đa số xảy ra do thoát vị đĩa đệm thắt lưng. Bệnh nhân đi lại khó khăn, thắt lưng bị vẹo sang bên, có khi đau không chịu nổi phải bò lết, thậm chí có thể gây liệt chi dưới.

90% đau thắt lưng cấp ở người trẻ tuổi có nguyên nhân từ đĩa sống, do chấn động cơ học khi thực hiện một động tác gắng sức hay sai tư thế. Đối với người lớn tuổi, tình trạng lún đốt sống do loãng xương là nguyên nhân thường gặp, nhưng phổ biến nhất là do chấn thương (do nghề nghiệp, khi chơi thể thao, tai nạn…), hoặc những tác động trong quá trình lão hóa của cơ thể.

Bệnh đặc biệt phổ biến ở nhân viên văn phòng, tài xế, phi công, giáo viên, thợ may - những nghề nghiệp đòi hỏi phải ngồi hoặc đứng khom lưng trong thời gian dài. Khi cột sống bị tổn thương, các khối cơ phải kiêm luôn cả việc chống đỡ cho cột sống. Tư thế trên nếu duy trì trong thời gian dài sẽ làm giãn các dây chằng và mô mềm vùng thắt lưng, cơn đau xuất hiện.

Đặc biệt, nếu không chú ý điều chỉnh tư thế xấu, lâu ngày sẽ làm biến dạng các đốt sống, lúc ấy đau sẽ xuất hiện thường xuyên và khó đáp ứng với các liệu pháp điều trị.

Đau thắt lưng cũng có thể là triệu chứng của các bệnh thực thể, dẫn đến những biến chứng như: liệt thần kinh, teo cơ bắp chuối hay nhóm cơ trước ngoài của cẳng chân, loét da do mất cảm giác vùng thần kinh tổn thương, đau nhiều hay đau dai dẳng, có thể gây tàn phế. Vì vậy, việc phòng bệnh và điều trị đúng cách đau thắt lưng là vấn đề rất quan trọng.

Phương pháp phòng ngừa chủ yếu là chú ý giữ tư thế đúng khi sinh hoạt, lao động; đặc biệt là phải biết duy trì độ cong sinh lý của vùng thắt lưng khi ngồi, đứng trong thời gian dài.
Theo vietbao

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

Chữa bệnh phong thấp bằng rễ bưởi bung

Phong thấp đau nhức xương khớp không chỉ gặp ở các cụ cao tuổi mà còn gặp rất nhiều ở cả những người trẻ tuổi, trẻ em và phụ nữ với mức độ nặng nhẹ khác nhau. Triệu chứng thường gặp nhất ở người bị phong thấp là đau nhức các khớp từ mắt cá chân đến đầu gối, cột sống, lưng, cổ, gáy, đến những khớp ngón chân, ngón tay, có thể viêm, sưng, nóng đỏ đau hoặc không, có thể khu trú ở khớp xương hoặc lan toả tới da thịt, gân cơ, trong ống xương, tuỷ xương, khắp cơ thể. Theo Đông y có thể chữa bệnh phong thấp bằng rễ bưởi bung.
Chữa bệnh phong thấp bằng rễ bưởi bung
Còn gọi là bí bài cái, cây lưỡi ba, cây nhỡ, cao 4-6m, có khi cao hơn. Cành ngoằn ngoèo, khi non màu lục, sau màu nâu đỏ. Vỏ hơi nhăn, có mùi xoài. Lá mọc đối, có cuống dài 2-3cm, hơi phình ở hai đầu, phiến dai, mép nguyên, gốc hẹp, đầu tù hơi nhọn, mặt trên bóng, lúc non có lông, sau nhẵn. Cụm hoa hình ngù mọc ở kẽ dài bằng lá; lá bắc và lá bắc con thành vảy rất nhỏ; hoa trắng, rất thơm, lưỡng tính; lá đài 4, rất ngắn, đầu tù; cánh hoa 4, thuôn dài, nở xòe rộng; nhị 8, 4 cái nằm trên cành hoa; bầu hình trứng, có nhiều lông. Quả hình cầu nạc, khía múi, khi chín màu vàng nhạt ăn được, đường kính 1,5-2cm, chứa một hạch cứng có 4 ô, mỗi ô đựng một hạt dài có vỏ cứng màu đen. Mùa hoa: tháng 7-9; mùa quả: tháng 10-11. Theo Đông y bưởi bung có vị ngọt, tính bình, có tác dụng hành khí, hoạt huyết, kiện tỳ, chỉ khái.

Một số bài thuốc có bưởi bung tác dụng chữa phong thấp, đau nhức mình mảy và khớp xương:

Bài 1: Rễ bưởi bung 20g, rễ cốt khí 16g, rễ cỏ xước 20g, dây đau xương 24g, hoa kinh giới 20g, rễ hoàng lực, mỗi thứ 20g. Cách dùng: cho 600ml nước sắc còn 200ml nước, ngày uống 1 thang, chia làm 2 lần.

Bài 2: Uy linh tiên 16g, rễ gắm 12g, thiên niên kiện 16g. Nhức xương nhiều thêm rễ tầm xuân 12g, thân cà gai leo 20g, rễ bưởi bung 16g. Cách dùng: cho 600ml nước sắc còn 200ml nước, ngày uống 1 thang, chia làm 2 lần.

Bài 3: Rễ bưởi bung 20g, rễ xấu hổ 20g, rễ cúc tần 20g, rễ và lá đinh lăng 10g, rễ và lá cam thảo dây 10g. Tất cả sao qua. Cách dùng: cho 600ml nước sắc còn 200ml nước, ngày uống 1 thang, chia làm 2 lần, dùng từ 3-5 ngày.
Theo dinhduong

Bệnh viêm khớp dạng thấp và hậu quả của nó

Bệnh viêm khớp dạng thấp là một bệnh mạn tính kéo dài và có thể để lại nhiều hậu quả xấu cho người bệnh. Viêm khớp dạng thấp là loại viêm nhiều khớp mạn tính, có thể gặp ở nam và nữ nhưng nữ giới thường mắc bệnh này chiếm tỷ lệ cao hơn (tỷ lệ giữa nam và nữ là 1/3). 
Bệnh chữa khỏi hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố liên quan như phải chẩn đoán sớm, đúng, điều trị đúng phác đồ và người bệnh phải kiên trì điều trị.
Hậu quả của viêm khớp dạng thấp

Hậu quả của bệnh viêm khớp dạng thấp rất khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố từ khâu chẩn đoán sớm, điều trị đúng, chế độ dinh dưỡng, tập luyện… Người ta thấy rằng hậu quả của viêm khớp dạng thấp có thể để lại di chứng biến dạng khớp bị viêm, co quắp các ngón tay, hạn chế chức năng vận động, teo cơ và có thể bị tàn phế (khoảng 10 – 15%). Một số yếu tố khác có thể làm ảnh hưởng đến tính mạng người bệnh như người bệnh viêm khớp dạng thấp có kèm bệnh tim mạch, mắc thêm bệnh nhiễm khuẩn cấp tính. Đối với viêm khớp dạng thấp cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có triệu chứng hơi giống viêm khớp dạng thấp như đau nhức xương hoặc mỏi cơ, mỏi khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp phản ứng, viêm khớp vẩy nến là những bệnh thuộc về khớp nhưng phản ứng huyết thanh về yếu tố RF âm tính, viêm khớp không đối xứng ở một hoặc nhiều khớp, các bệnh này thường gặp ở nam giới. Hoặc một số bệnh có liên quan đến khớp nhưng không phải viêm khớp dạng thấp như lupus ban đỏ hệ thống, thoái hoá khớp hoặc viêm khớp do liên cầu nhóm A (S.pyogenes) gây thấp tim tiến triển…

Khi nghi ngờ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp hoặc đã mắc bệnh viêm khớp dạng thấp thì nên làm gì?
Bệnh viêm khớp dạng thấp là bệnh mạn tính, kéo dài, để lại nhiều hậu quả xấu mà nguyên nhân chưa được xác định một cách chắc chắn, do vậy khi nghi ngờ bị bệnh viêm khớp dạng thấp cần đi khám ngay, tốt nhất là được khám bởi bác sĩ chuyên khoa xương khớp. Khi đã bị bệnh viêm khớp dạng thấp cần xác định là điều trị sớm, tích cực, liên tục và lâu dài. Người bệnh không nên tự mua thuốc điều trị, làm như vậy không những bệnh không khỏi mà đôi khi còn nặng hơn. Không được tiêm bất cứ loại thuốc nào vào vùng đau của khớp khi chưa có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Mọi người bệnh viêm khớp dạng thấp nên có chế độ sinh hoạt hợp lý và rèn luyện cơ thể đều đặn nhằm tránh biến dạng khớp, cứng khớp, teo cơ. Hằng tháng nên đi khám bệnh theo định kỳ để bác sĩ theo dõi tình trạng sức khoẻ của mình thuận lợi hơn, nếu thấy cần kết hợp điều trị giữa nội khoa, ngoại khoa hoặc lý liệu pháp thì bác sĩ sẽ tư vấn kịp thời cho người bệnh biết. viêm khớp dạng thấp là một trong những bệnh cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc, người bệnh và gia đình bệnh nhân thì hiệu quả điều trị sẽ được tăng lên.

Tiêu chuẩn để chẩn đoán có phải viêm khớp dạng thấp hay không: cứng khớp buổi sáng; viêm khớp, sưng phần mềm vùng khớp ở ít nhất 3 khớp trong số các khớp (khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn – ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn – ngón chân); viêm đau khớp đối xứng; tăng nồng độ yếu tố dạng thấp RF trong huyết thanh; trên Xquang có hình ảnh biến đổi của xương (mất vôi, hình dải hoặc xói mòn hoặc khuyết xương ở bàn tay, bàn chân hoặc hẹp khe khớp hoặc dính khớp) và có nốt thấp xuất hiện. Chẩn đoán xác định khi có ≥ 4 tiêu chuẩn.
Theo suckhoedoisong

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

Nguyên nhân và cách phòng tránh bệnh đau khớp, cơ xương khớp ở người cao tuổi

Những người trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh xương khớp trở nên rất cao, lên tới 60%.Khi thời tiết thay đổi, nhất là từ nóng sang lạnh, đây là lúc bắt đầu xuất hiện các bệnh lý về khớp như: đau khớp, viêm khớp, thoái hóa khớp tiến triển.
Nguyên nhân của các bệnh cơ xương khớp ở người cao tuổi
Có nhiều nguyên nhân có thể giải thích được sự gia tăng đến chóng mặt các bệnh xương khớp ở người cao tuổi. Đầu tiên đó là sự lão hoá của cơ thể. Tiếp theo là các điều kiện môi trường, xã hội, văn hóa không thuận lợi (ô nhiễm môi trường, lao động nặng nhọc, thời tiết thay đổi thường xuyên, kinh tế lạc hậu, trình độ văn hoá, nhận thức của người dân còn hạn chế). Như chúng ta đã biết, bộ máy vận động của chúng ta cấu tạo từ cơ, xương và khớp, có tác dụng tạo hình cho toàn bộ cơ thể. Hệ thống các xương của cơ thể tạo thành một khung xương vững chắc, có tác dụng bảo vệ các cơ quan có tầm quan trọng sống còn như đại não, tủy sống, các tạng trong lồng ngực, ổ bụng. Sự phối hợp nhịp nhàng của hệ thống cơ xương khớp với nhau và với các cơ quan khác cho phép con người di chuyển được trong không gian, sinh hoạt và lao động. Những người trẻ tuổi đạt đến sự phát triển thể lực tối đa. Bộ máy vận động của họ hoạt động trơn tru, hoàn hảo, phối hợp rất tốt với các cơ quan khác trong cơ thể như thần kinh, tim mạch, hô hấp. Do vậy họ có thể thực hiện các động tác phức tạp, có sức chịu đựng bền bỉ, dẻo dai. Tuy nhiên khi về già, ở những người cao tuổi diễn ra quá trình thoái hoá toàn bộ cơ thể, trong đó phải kể đến sự lão hóa của bộ máy vận động (cơ xương khớp). Bộ máy vận động trở nên rệu rã, như một chiếc xe máy già nua, han gỉ, khó có thể thực hiện được chức năng vận động tốt như ngày trẻ. Bộ máy vận động do vậy trở nên dễ bị tổn thương hơn, khó chống cự lại được với các yếu tố gây hại của môi trường như chấn thương, tai nạn, bệnh tật. Bên cạnh đó một số lượng đáng kể những người cao tuổi cũng đã từng bị mắc các bệnh khớp nhiều năm trước đó, để lại các di chứng nặng nề khi họ bước vào tuổi già. Kết quả là có một số bệnh khớp thường hay gặp nhiều ở những người cao tuổi. Đó là thoái hoá khớp, loãng xương, đau cột sống thắt lưng, gút, ung thư xương. Có thể nói nôm na là thoái hoá khớp chính là hậu quả của quá trình lão hóa khớp, còn loãng xương chính là do lão hoá hệ thống xương của cơ thể. Điều đáng chú ý là người có tuổi thường hay mắc đồng thời nhiều bệnh khác nhau như tăng huyết áp, bệnh Parkinson, làm bệnh nhân rất dễ bị té ngã với hậu quả là gãy xương, thậm chí tử vong. Còn gút chính là biểu hiện rối loạn chuyển hoá đạm của cơ thể, một trục trặc về chuyển hóa, thường đi kèm với các rối loạn chuyển hoá khác như rối loạn chuyển hoá đường gây bệnh đái tháo đường hay rối loạn lipid máu gây xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Còn ung thư xương thường là thứ phát, hậu quả của di căn các loại ung thư từ nơi khác đến xương như ung thư phổi, vú, dạ dày, tuyến tiền liệt, bệnh đa u tủy xương.
Các biện pháp phòng tránh bệnh lý xương khớp ở người cao tuổi.
Hiện nay có rất nhiều các biện pháp điều trị và dự phòng có hiệu quả các bệnh xương khớp ở người cao tuổi. Đầu tiên đó là một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, kết hợp với chế độ thuốc men phù hợp với đặc điểm bệnh lý của người cao tuổi. Ngoài ra sự giúp đỡ động viên của gia đình và xã hội có vai trò rất quan trọng. Chính sự hoạt động trong các câu lạc bộ sức khỏe người cao tuổi góp phần củng cố sức khỏe thể chất và tinh thần cho người cao tuổi. Các biện pháp điều trị không dùng thuốc như khí công, thái cực quyền thường có hiệu quả lớn ở những người cao tuổi.
Nguồn tintuccaonien

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2010

Điều trị chứng đau lưng ở người cao tuổi

Mọi người có thể mắc triệu chứng đau lưng (ĐL) ngay cả tuổi còn rất trẻ và cũng không có sự phân biệt giàu – nghèo, giới tính cũng như chủng tộc, vùng địa lý (miền xuôi, miền ngược, nông thôn, thành thị). Tuy vậy, người cao tuổi (NCT) dễ mắc chứng đau hơn rất nhiều so với người trẻ tuổi ĐL chỉ là một triệu chứng nhưng gây không ít phiền toái cho người bệnh.


Nguyên nhân gây ĐL ở NCT

ĐL có hai loại nguyên nhân cơ bản: ĐL do tác động cơ học và ĐL do hiện tượng viêm.

ĐL do tác động cơ học: đây là loại ĐL hay gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành và đặc biệt là NCT như: thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đôi cột sống... Thoái hóa cột sống thường hay xảy ra ở vị trí sụn khớp và đĩa đệm, bởi do hiện tượng trọng lực của cơ thể quá nặng tác động hàng ngày lên cột sống và cả tác động của trọng lực đè lên vai gáy rồi tác động xuống hệ thống đốt sống (ví dụ như ngồi làm việc nhiều giờ không vận động). Khi cột sống bị thoái hóa thì triệu chứng ĐL được thể hiện khá sớm và cũng chính vì có hiện tượng ĐL rất khó chịu mà người bệnh phải đi khám. Ngoài các nguyên nhân do thoái hóa cột sống thì có những nguyên nhân thuộc về cơ học như: mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột hoặc bưng, bê không cân xứng... Đây cũng là một trong các nguyên nhân gây ĐL ở NCT.

ĐL do hiện tượng viêm: trong các nguyên nhân gây viêm có thể xảy ra ngay tại cột sống như: viêm đĩa đệm, lao cột sống, ung thư cột sống, viêm khớp cùng chậu... và cũng có nhiều trường hợp ĐL nhưng lại do viêm nhiễm ở một cơ quan khác trong cơ thể như: viêm phần phụ ở nữ giới (viêm tiểu khung, viêm buồng trứng...), viêm dạ dày - tá tràng, viêm tiết niệu (do sỏi hoặc do vi khuẩn)... Các loại bệnh này thường gây ĐL một cách âm ỉ, đặc biệt hay xảy ra vào ban đêm và ĐL cùng một lúc với các triệu chứng chính của bệnh (ví dụ như người bị đau dạ dày, sỏi tiết niệu). Những nguyên nhân này cũng thường gặp ở NCT nhiều hơn người còn trẻ tuổi.

Biện pháp khắc phục ĐL

ĐL chỉ là một triệu chứng biểu hiện của nhiều bệnh. Trước hết, người bị ĐL nên xem ĐL có từ bao giờ và có những hiện tượng gì liên quan đến ĐL hay không? Ví dụ hay ĐL vào thời gian nào trong ngày, đau có liên tục không, cơn đau có dữ dội hay âm ỉ. Ngoài ĐL còn có triệu chứng nào liên quan mật thiết với ĐL như: tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu són, nước tiểu có máu, nước tiểu đục hoặc sau mang vác nặng; bưng bê vật nặng, sai tư thế. Có thể tự tìm thấy một số dấu hiệu hoặc hiện tượng có khả nghi nhưng không nên tự mình chẩn đoán bệnh cho mình hoặc người thân khi không có chuyên môn thực sự về y khoa.

Điều quan trọng nhất của việc tìm nguyên nhân gây ĐL là đi khám bệnh ở những cơ sở y tế có đủ điều kiện và trang thiết bị chẩn đoán. Khi đến khám bệnh cần nghe rõ thầy thuốc hỏi những gì và cần nói rõ cho thầy thuốc biết những hiện tượng ĐL và các biểu hiện kèm theo. Bác sĩ sẽ khám và cho làm các xét nghiệm có liên quan, ví dụ như: có thể cho chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, siêu âm hệ thống niệu (thận, niệu quản, bàng quang), làm xét nghiệm về nước tiểu.

Có khá nhiều trường hợp khi tìm ra nguyên nhân và có biện pháp khắc phục thích hợp thì ĐL cũng dần dần sẽ khỏi, ví dụ như: ngồi sai tư thế, bưng bê vật nặng không cân xứng trọng lực giữa hai tay và hai chân hoặc các trường hợp ĐL do ngồi sai tư thế hoặc do ngồi quá nhiều giờ liền như: đối với lái xe, cán bộ văn phòng ngồi trước máy vi tính nhiều giờ, các nhân viên tổng đài, thợ may... Một số bệnh sốt cấp tính do nhiễm trùng cũng gây ĐL, đau cơ, mệt mỏi như trong bệnh sốt xuất huyết (loại sốt Dengue cổ điển).

 Điều trị đau lưng bằng vật lý trị liệu

Trên cơ sở khám lâm sàng, kết quả các xét nghiệm và cận lâm sàng thì bác sĩ khám bệnh sẽ kết luận và cho hướng điều trị thích hợp. Tuy vậy, cũng có nhiều trường hợp mặc dù biết rõ căn nguyên nhưng giải quyết triệt để căn nguyên đó không phải đơn giản. Chẳng hạn như: thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm. Nhiều nhà chuyên môn khuyên rằng, khi biết rõ nguyên nhân gây ĐL thì cần tìm mọi cách để giải quyết nguyên nhân và sau khi đã điều trị khỏi chứng ĐL thì không nên để tái phát nguyên nhân đó.

Ngoài việc tìm căn nguyên để điều trị thì các việc làm khác hỗ trợ cũng rất cần thiết như tập thể dục nhẹ nhàng tùy theo sức mình và bệnh của mình. Các động tác đi bộ hoặc tập thể dục cho người thoái hóa cột sống cũng rất cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị, theo dõi sức khỏe cho mình.

Việc dùng thuốc để điều trị căn nguyên gây ĐL không phải tùy tiện mà cần tuân thủ y lệnh một cách tuyệt đối của bác sĩ. Tuyệt đối không được tự mua thuốc để điều trị hoặc cùng một lúc cả thuốc Tây y và Đông y. Trong điều kiện cho phép, có thể điều trị Đông - Tây y kết hợp, ví dụ như uống thuốc Tây y kết hợp xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt hoặc vật lý liệu pháp. NCT cũng đừng quên đi khám bệnh định kỳ để được theo dõi bệnh một cách liên tục đề phòng bệnh ĐL tái phát.

BS. MAI HƯƠNG

Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010

Phòng chống thoái hóa khớp và cột sống ở người cao tuổi

Phòng chống thoái hóa khớp và cột sống ở người cao tuổi
Bệnh thoái hóa khớp và cột sống gặp khá nhiều ở Việt Nam. Ngoài các triệu chứng điển hình, bệnh còn để lại nhiều loại di chứng ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người bệnh.

Triệu chứng biểu hiện

Đau: đau là dấu hiệu bao giờ cũng có. Đau khi làm việc gắng sức, vận động nhiều, nhất là khi thời tiết thay đổi và đặc biệt là giảm khi nghỉ ngơi, không vận động. Tính chất của đau thường đau âm ỉ và liên tục, cơn đau càng tăng dần nếu không có sự can thiệp gì. Ví dụ như: xoa bóp, bấm huyệt, châm, cứu hoặc bôi các thuốc giảm đau như diclofenac, tinh dầu giảm đau... Các triệu chứng khác của viêm như: sưng, nóng, đỏ thường không thấy xuất hiện.

Hạn chế vận động: triệu chứng hạn chế vận động gần như bao giờ cũng gặp. Điển hình nhất của hạn chế vận động là khi người bệnh cúi xuống hoặc quay nghiêng sang bên khó khăn. Nếu có chèn ép dây thần kinh thì cúi xuống rất khó khăn và đau (hội chứng của đau thần kinh tọa).

Làm biến dạng cột sống như: cong, vẹo.

Ngoài ra có thể có hiện tượng teo cơ, nhất là trong trường hợp dây thần kinh tọa bị chèn ép lâu ngày.

Về chụp X-quang có 3 dấu hiệu đặc trưng: hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn và mọc gai xương.

Ngày nay, khoa học về y học ngày càng phát triển cho nên có nhiều kỹ thuật, xét nghiệm giúp cho việc chẩn đoán thoái hóa khớp và cột sống chính xác hơn rất nhiều như chụp cộng hưởng từ chẳng hạn...

Biện pháp xử trí

Rất cần đi khám bác sĩ để được chẩn đoán chắc chắn và có hướng điều trị thích hợp, không nên tự điều trị hoặc dùng những thuốc không có lợi. Việc làm này không những không khỏi bệnh mà còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe như: gây teo cơ, loãng xương… Nên đi khám càng sớm càng tốt, bởi vì hiện nay đã có một số thuốc và biệt dược được khuyến cáo dùng trong điều trị thoái hóa khớp và cột sống khá hiệu nghiệm, kể cả khớp cùng chậu.

Khi đau nhiều mà chưa có điều kiện đi khám bác sĩ thì nên nghỉ ngơi, hạn chế vận động nặng, xoa bóp, thoa một số loại dầu làm giảm đau như dầu gió hoặc kem bôi kháng viêm non-steroid hoặc uống thuốc giảm đau như paracetamol.

Khi cơn đau đã giảm có thể tập thể dục nhẹ nhàng, tập đúng bài, những ngày đầu có thể tập thời gian ngắn, sau đó tùy theo sự đánh giá của bản thân mà tăng dần thời gian lên.

Khi đi khám bác sĩ và đã có chỉ định điều trị thì nên kiên trì và chịu khó uống thuốc. Người bệnh cần xác định đây là dạng bệnh mãn tính và phải điều trị lâu dài, đặc biệt là người bệnh đã có tuổi việc phục hồi tổ chức sụn, khớp không thể ngày một ngày hai.


    Bệnh thoái hóa khớp và cột sống là bệnh mạn tính do thương tổn ở sụn của khớp và đĩa đệm của cột sống. Sụn và đĩa đệm bị xơ cứng, mỏng, mất tính đàn hồi, nhiều khi còn mọc thêm các gai xương. Sở dĩ có hiện tượng đó là do quá trình lão hóa của mô sụn. Thông thường, bệnh gặp ở người cao tuổi nhưng cũng có thể gặp ở cả lứa tuổi trẻ hơn, trung niên. Loại bệnh hay gặp nhất là thoái hóa đốt sống thắt lưng và khớp cùng chậu.

TS.BS. MAI HƯƠNG 
(Theo SKDS)

Thứ Năm, 23 tháng 9, 2010

Phòng và chữa bệnh thấp khớp

Phòng và chữa bệnh thấp khớp
Đông y gọi thấp khớp là chứng Tý – vì người bệnh thường có triệu chứng đau. Đau là do khí huyết không lưu thông. Vì: thông bất thống, thống tắc bất thông (lưu thông thì không đau, tắc lại tất sẽ đau).

Nguyên nhân thấp khớp – tý chứng chính thường kể tới 2 nhóm:

 Một là do thời tiết khí hậu trái thường tác động vào da, sau dẫn theo kinh lạc tác động vào trong sâu.  Thời tiết khí hậu có lục dâm đó là: Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa.  Lục dâm này ít khi tác động đơn lẻ, chúng có thể kết hợp với nhau gây bệnh cho người.  Thí dụ phong+hàn, phong+thấp, phong+nhiệt.  Hoặc hàn thấp, thấp nhiệt …Do vậy thấp khớp hay chứng tý lại chia ra: phong thấp, phong hàn, phong nhiệt hay nhiệt tý, thấp tý, hàn tý.  Tùy nguyên nhân gây bệnh mà người bệnh có các biểu hiện triệu chứng khác nhau, thí dụ đau khớp có kèm xưng, nóng, đỏ, lại đau di chuyển hết khớp này đến khớp khác là phong nhiệt hay nhiệt tý.  Đau chỉ khu trú 1 hay hai khớp.  Lạnh càng đau tăng, nếu có xưng khớp thì không xưng đỏ, sờ tay không thấy nóng đó là Hàn Tý hay hàn thấp.  Chứng Tý bị lâu có thể tổn thương tới một trong 3 tạng của cơ thể đó là can, tỳ, thận.  Ngược lại: 3 tạng này yếu cũng có thể sinh chứng tý Vì: Can chủ cân và can tàng huyết, can huyết thiếu, chân tay tê bại, huyết kém lưu thông, can cơ sẽ sinh đau mỏi.  Tỳ chủ vận hóa, tỳ chủ cơ nhục.

Tỳ rối loạn công năng vận chuyển biến hóa thức ăn sẽ sinh Đàm.  Đàm lưu thông trong kinh mạch, tắc nghẽn kinh mạch sẽ sinh đau, sinh phù, sinh tê một khớp hay nhiều khớp.  Thận chủ cốt, thận tạo xương vào giúp xương chắc khỏe.  Thận yếu sẽ sinh rối loạn ở xương khớp, dính khớp, gai xương, đau lưng mỏi gối.  Thận sinh tinh, tinh sinh tủy, tủy sinh huyết.  Khi thận yếu thường đau lưng mỏi gối (phủ của thận là vùng thắt lưng).  Thận hư luôn có cảm giác đau mỏi trong xương khớp.  Để phòng bệnh ta chú ý đến các yếu tố khí hậu trái thường đó là: phong hàn, phong nhiệt, phong thấp… Để bảo vệ ba Tạng Can, Tỳ, Thận cần lưu ý: chế độ sinh hoạt sao cho thư thái, bớt căng thẳng bớt giận hờn, bởi tức giận hại can uất ức lâu sinh nhiệt, ăn nhiều chất chua hại can, lo nghĩ quá hại tỳ, ăn nhiều chất nhờn béo, ăn nhiều chất ngọt hại tỳ.  Tỳ yếu thì công năng vận hóa yếu sẽ sinh đàm, thấp khớp.  Kinh sợ quá hại thận, đa dâm bại thận, ăn mặn quá cũng hại thận.  Lao động khiêng vác, gánh nặng, lâu ngày sẽ làm xương sống bị đè nặng sinh tổn thương xương.

Thuốc chữa, phải chọn tùy thể thấp khớp.  Thấp khớp cấp tổn thương nên phối hợp tân dược với đông dược.  Nếu chỉ là bệnh khớp đơn thuần, có thể chọn một trong các phương pháp sau hoặc phối hợp hai, ba phương pháp tùy hoàn cảnh và điều kiện của mỗi người, mỗi bệnh.  Không dùng thuốc có thể: xoa bóp, châm cứu hoặc lý liệu pháp (đắp paraffin, dùng sóng ngắn) dùng các lá như lá lốt, cúc tần, ngải cứu, rang nóng đắp vào vùng khớp đau.  Hay bấm nắn và kéo dãn cũng có thể dùng đông dược đơn thuần hay đông dược kết hợp với tân dược.

Nếu đau khớp có xưng nóng đỏ, có thể dùng bài:

- Bạch linh 12g
- Bạch truật 12g
- Phòng phong 12g
- Hy thiêm 12g
- Hoàng bá 12g
- Thổ phục 12g
- Quế chi 12g
- Ngưu tất 12g
- Ý dĩ 20g
- Đương qui 12g
Sắc uống ngày 1 thang

Hoặc bài:
- Mã tiền chế 6g
- Cám nếp 12g
 Sắc uống
 Tán nhỏ làm viên bằng mật uống.

Nếu chỉ xưng không nóng đỏ ở khớp, dùng bài:
- Xuyên khung 12g
- Độc hoạt 12g
- Phòng phong 12g
- Khương hoạt 12g
- Bạch linh 12g
- Bạch truật 12g
- Đương qui  12g
- Ngưu tất 12g
- Sắc uống.

Nếu đau cổ gáy lan khớp vai, tay hoặc đau vùng thắt lưng đau xuống chân, bàn chân có thể dùng bài: 
- Xuyên khung 12g
- Xích thược 12g
- Bạch chỉ 12g
- Quế chi 12g
- Đương qui 12g
- Kê huyết đằng 12g
- Thục địa 12g
- Đỗ trọng 16g
- Tục đoan 12g
- Khương hoạt 12g
- Độc hoạt 12g
- Sắc uống ngày 1 thang.n

GS.TS. Dương Trọng Hiếu

Liệu pháp sinh học trong việc điều trị viêm khớp dạng thấp

Liệu pháp sinh học trong việc điều trị viêm khớp dạng thấp
Liệu pháp mới nhất và có hiệu quả nhất đối với viêm khớp dạng thấp là liệu pháp sinh học (LPSH).  Đây là phương pháp điều trị bằng cách sử dụng các protein biến đổi gen được chiết xuất từ gen người.  Các protein này có tác dụng ức chế một số thành phần đặc biệt của hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong phản ứng viêm, một yếu tố đặc biệt trong viêm khớp dạng thấp. Liệu pháp sinh học thường được sử dụng khi các thuốc chữa trị khác không làm giảm phản ứng viêm của viêm khớp dạng thấp.  Liệu pháp sinh học còn có tác dụng làm chậm hoặc chặn đứng tiến triển của viêm khớp dạng thấp khi các loại thuốc khác đã tỏ ra không hiệu quả.

LIỆU PHÁP SINH HỌC TÁC DỤNG NHƯ THẾ NÀO?

Liệu pháp sinh học là các protein biến đổi gen được chiết xuất từ gen người. Chúng có tác dụng ức chế một số thành phần đặc biệt của hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong phản ứng viêm, một yếu tố then chốt trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Liệu pháp sinh học khác biệt chủ yếu với các liệu pháp kinh điển khác ở chỗ liệu pháp sinh học nhằm vào một số thành phần đặc biệt của hệ miễn dịch trong khi liệu pháp kinh điển lại tác dụng trên diện rất rộng của hệ miễn dịch.

TÁC DỤNG PHỤ CỦA LIỆU PHÁP SINH HỌC LÀ GÌ ?

-Tương tác như các thuốc làm giảm miễn dịch khác. Liệu pháp sinh học  có thể làm tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn hoặc các bệnh khác. Vì vậy, những người sử dụng Liệu pháp sinh học  cần phải theo dõi nếu phát hiện sốt kéo dài hoặc có các triệu chứng bất thường khác.
- Liệu pháp sinh học có thể làm bùng phát một số bệnh đã “ngủ yên” như bệnh lao hoặc suy tim.
- Tất cả các bệnh nhân cần thử test tuberculin trước khi tiến hành Liệu pháp sinh học
- Một bất lợi khác của Liệu pháp sinh học là phải tiêm truyền đường tĩnh mạch
- Phụ nữ có thai được khuyến cáo là không nên dùng Liệu pháp sinh học .

CÁC CHẾ PHẨM CỦA LIỆU PHÁP SINH HỌC

Entanercept và adalimumab

Entanercept và adalimumab đều có tác dụng làm giảm triệu chứng viêm và các tổn thương của viêm khớp dạng thấp bằng cách ức chế một hoạt chất của phản ứng viêm được gọi là yếu tố hoại tử khối u (TNF: Tumor necrosis factor). Entanercept và adalimumab là chất ức chế TNF được dùng dạng tiêm dưới da, 1 hoặc 2 lần một tuần. Bệnh nhân được tập huấn cách tự tiêm thuốc hay nhờ người thân trong nhà hoặc y tá tiêm cho. Bộ dụng cụ để tiêm được chế tạo rất dễ sử dụng, hơn nữa thuốc đã được chứa sẵn trong ống tiêm, sẵn sàng cho việc tự tiêm, thuốc có thể gây kích thích tại chỗ tiêm. Để làm giảm tác dụng phụ này chỉ cần đặt đá lạnh lên chỗ tiêm trước và sau khi tiêm. Entanercept và adalimumab đều có thể làm giảm hệ miễn dịch dẫn đến nhiễm trùng. Mặc dù hiếm gặp nhưng một số ít bị nhiễm trùng trầm trọng sau khi tiêm.

Infliximab

Tương tự như hai loại thuốc trên Infliximab làm giảm phản ứng viêm và tổn thương của Viêm đa khớp dạng thấp bằng cách ức chế một hoạt chất hóa học của hiện tượng viêm được gọi là yếu tố hoại tử khối u (TNF). Infliximab được dùng bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch tại các cơ sở y tế do bác sỹ chỉ định. Mỗi lần truyền tĩnh mạch kéo dài trong 2 giờ. Liệu pháp truyền tĩnh mạch được thực hiện 3 lần trong 6 tuần đầu tiên của liệu trình, sau đó cứ mỗi 8 tuần. .

Infliximab thường được dùng phối hợp với Methrotrexat để điều trị viêm đa khớp dạng thấp. Bởi vì dùng bằng đường tiêm truyền , nên thuốc rất dễ gây ra choáng phản vệ, vì vậy cần phải theo dõi trong suốt quá trình tiêm truyền. Cũng giống như các liệu pháp sinh học khác là làm giảm hệ miễn dịch nên rất dễ bị nhiễm trùng. Vì vậy, nếu thấy bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào như sốt, ra mồ hôi hoặc ớn lạnh, da nổi mẫn đỏ thì phải báo ngay cho bác sỹ điều trị biết.

Anakira

Anakira là một loại protein có tác dụng làm giảm phản ứng viêm bằng cách ức chế chất truyền tin hóa học là Interleukin-1. Anakira được chỉ định tiêm mỗi ngày một mũi. Anakira không được chỉ định dùng rộng rãi vì tác dụng không cao. Cũng giống như các liệu pháp sinh học khác là làm giảm hệ thống miễn dịch, nên dễ bị nhiễm trùng. Vì vậy, nếu thấy bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào như sốt, ra mồ hôi hoặc ớn lạnh, da nổi mẫn đỏ thì phải báo ngay cho bác sỹ điều trị biết.

Rituximab

Rituximab được chỉ định với những bệnh nhân Viêm đa khớp dạng thấp trung bình và nặng mà không đáp ứng với các liệu pháp ức chế TNF khác như Entanercept và adalimumab hoặc Infliximab. Rituximab là một protein kháng thể tác dụng chủ yếu làm giảm các tế bào bạch cầu chuyên biệt, được gọi là tế bào B ở trong máu. Rituximab được sử dụng bằng đường truyền tĩnh mạch 2 lần, mỗi lần cách nhau 2 tuần lễ, kết hợp với Methrotrexat. Liệu trình Rituximab có thể được dùng lần nữa nhưng phải cách 4 đến 8 tháng sau. Bởi vì, Rituximab được dùng bằng đường truyền tĩnh mạch, nên nó có thể bị shock phản vệ và bệnh nhân phải được theo dõi trong suốt quá trình truyền dịch, cũng giống như các liệu pháp sinh hoc khác là làm giảm hệ miễn dịch, nên dễ bị nhiễm trùng.

Anbatacept

Anbatacept thường được dùng để điều trị viêm đa khớp dạng thấp thể trung bình và nặng. Anbatacept là một protein kháng thể tác dụng ức chế các tín hiệu chủ  yếu để kích hoạt tế bào Lympho T của hệ miễn dịch Lympho bào T được hoạt hóa đóng một vai trò quan trọng trong sự tiến triển của bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Anbatacept cho thấy có tác dụng làm giảm các triệu chứng và ngăn chặn tiến triển của bệnh ở những bệnh nhân không dùng Methrotrexat hoặc các liệu pháp sinh học khác. Anbatacept có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp với các liệu pháp khác ngoại trừ liệu pháp sinh học.

BS Nguyễn Văn Thông

Phòng chữa bệnh đau lưng theo Đông y

Phòng chữa bệnh đau lưng theo Đông y
Lưng là chỉ toàn bộ phần lưng ngực đến thắt lưng; nhưng trên 70% bệnh nhân bị đau là vùng thắt lưng. 
Đau lưng phần lớn liên quan đến cột sống nên ta ôn lại: Cột sống gồm 7 đốt sống cổ (C1 – C7, C là chữ viết Cou: cổ); 12 đốt sống lưng (D1 – D12, D là chữ viết Dos: lưng); 5 đốt sống thắt lưng (L1 – L5, L là chữ viết Lombaire); 5 đốt sống cùng cụt (S1 – S5, S là chữ viết Sarcum). Viết lại như vậy để mọi người khi cầm tấm phim chụp của mình, ta hiểu thầy thuốc định nói đoạn nào của cột sống. Giữa 2 đốt sống có đĩa đệm để cột sống vận động  được dễ. Trong mỗi đốt sống có tủy sống. Tủy sống cho ra các đôi dây thần kinh tương ứng với từng vùng để thực hiện 2 chức năng là:
- Tiếp nhận cảm giác từ ngoài da (cảm giác áp lực, cảm giác sờ, nóng lạnh, cảm giác đau, tê).
- Điều khiển vận động của khối cơ vùng tương ứng (gọi là điều khiển theo tiết đoạn thần kinh).

Bên cạnh cột sống có chuỗi hạch thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Thần kinh giao cảm và phó giao cảm điều khiển hoạt động các cơ quan, tổ chức trái chiều nhau, thí dụ: Thần kinh giao cảm làm tăng tiết mồ hôi, làm tim co bóp nhanh, ruột co bóp nhanh; còn thần kinh phó giao cảm ngược lại, điều khiển để giảm tiết mồ hôi, giảm nhịp tim, giảm co bóp của ruột. Hai thần kinh này bình thường phối hợp với nhau để các cơ quan hoạt động, thí dụ: Tiết mồ hôi vừa phải, tùy lúc cơ thể nóng hay lạnh; nhịp tim đập từ 60 đến 70 lần/phút… Khi cơ thể hoạt động mạnh, thần kinh giao cảm sẽ hoạt động mạnh để cơ thể thích nghi với môi trường. Nếu ở trạng thái nghỉ, thần kinh phó giao cảm sẽ tăng cường hoạt động để các cơ quan cũng được nghỉ. Hệ thống thần kinh này gọi là thần kinh thực vật. Như vậy đau lưng là bệnh có nhiều triệu chứng kèm theo như: rối loạn cảm giác nóng lạnh, cảm giác bỏng rát ở một vùng, ở bàn chân… Cảm giác hồi hộp tim đập nhanh, cảm giác tê bì; có thể giảm hay hạn chế vận động một vùng…


Nguyên nhân gây bệnh lý cột sống:
- Dị tật từ bào thai (tiên thiên)
- Khi còn nhỏ, tư thế ngồi, lao động lệch vẹo.
- Khi lớn lao động nặng nhọc, khiêng vác nặng, làm việc ở tư thế không lợi như vặn mình kéo dài. Một số nghề đặc biệt như thể thao, xiếc…
- Do sinh hoạt quá mức “đa dâm bại thận”.
Ăn quá nhiều chất nhờn béo, giúp cơ thể tăng cân. Trọng lượng cơ thể tăng cũng góp phần đè ép lên cột sống, nhất là vùng thắt lưng, gây đau lưng khó chữa.

Phòng bệnh là phòng tránh các nguyên nhân kể trên, cần chú ý giúp các cháu ngồi học đúng tư thế, kích thước bàn ghế cần thích hợp cho từng độ tuổi, khi lao động nặng hay khiêng vác nặng xin đừng khinh xuất. Lao động ở tư thế lệch vẹo người dễ làm thoát vị đĩa đệm; từ thoát vị đĩa đệm cột sống thoái hóa, sinh gai, sinh hẹp khe, càng nhiều tuổi người bệnh hay bị còng. Nên khi mới bị bệnh cần chữa tích cực, đúng phương pháp cũng là cách phòng bệnh cho lâu dài.

Các đốt sống có thể dính lại làm hạn chế vận động, tiến tới mất vận động ở một vùng. Đó là bệnh viêm dính cột sống – nguyên nhân do rối loạn chuyển hóa, đây là bệnh nan giải. Thể thao tốt cho toàn thân và tăng dinh dưỡng ở cột sống, đó là cách phòng bệnh tích cực. Điều trị bệnh cột sống Đông y có hai phương pháp: Không dùng thuốc và dung thuốc. Không dùng thuốc đó là: xoa bóp, châm cứu, luyện tập có hướng dẫn, kéo dãn bằng tay hay bằng máy. Dùng thuốc chữa bệnh cột sống có hai loại, 1 là các kinh nghiệm dân gian từng vùng: như dùng các loại lá, loại củ hơ nóng đắp tại chỗ như ngải cứu, cúc tần, là lốt… hay các loại củ đun uống như ráy sơn thục, địa liền, huyết giác, kê huyết đằng… Thầy thuốc dùng biện chứng luận trị, nghĩa là sau khi khám căn cứ vào triệu chứng để chẩn đoán bệnh thuộc thể loại nào mà xây dựng bài thuốc. Trên cơ sở bài lục vị bổ thận, có thể thêm các vị thuốc hoạt huyết giảm đau, hay khu phong giảm đau, hay thêm đương quy, bạch thược để bổ thận, bổ huyết.

Để chữa đau vùng đốt sống cổ lan tới lưng ngực có thể dùng bài: xuyên khung 12g, bạch chỉ 12g, khương hoạt 12g, phòng phong 12g, cát căn 20g, quế chi 10g, bạch thược 10g, cam thảo 6g sắc uống.
Để chữa đau vùng thắt lưng, lan xuống hông, chân có thể dùng bài: thục địa 16g, hoài sơn 12g, sơn thù 8g, đan bì 6g, bạch linh 6g, trạch tả 6g, độc hoạt 12g, đỗ trọng 20g, xê huyết đằng 12g, phòng phong 12g, quế chi 12g sắc uống. n

GS.TS. Dương Trọng Hiếu  
(suckhoenct.com)

Thoái hóa khớp và cách phòng ngừa

Thoái hóa khớp là căn bệnh dễ xẩy ra ở người cao tuổi và phụ nữ, gây nên các cơn đau dữ dội và có  thể dẫn đến tàn phế. Thoái hóa khớp được xếp vào nhóm các bệnh có thể gây tàn phá cao nhất ở con người, nhiều trường hợp mất khả năng vận động và lao động. Vậy phải làm gì để chủ động phòng ngừa thoái hóa khớp?

Thoái hóa khớp và cách phòng ngừa

Thoái hóa khớp là gì?

Thoái hóa khớp là tình trạng hư hỏng phần sụn đệm giữa hai đầu xương kèm theo phản ứng viêm và giảm thiểu dịch nhầy giúp bôi trơn ma sát ở điểm nối giữa hai đầu xương. Tình rạng này gây đau nhức và cứng khớp, hạn chế cử động của khớp. Tuy không gây tử vong như tăng huyết áp, đái tháo đường, nhưng bệnh ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt do triệu chứng đau, tê, hạn chế cử động.

Những đối tượng nào dễ bị thoái khớp?

Thoái hóa khớp không phải là bệnh riêng của người lớn tuổi. Nó có thể phát triển từ những tháng đầu tiên của cuộc đời. Khoảng 30% người trên 35tuổi, 60% người trên 65 tuổi, 85% người trên 85 tuổi có nguy cơ mắc bệnh. Khoảng 2/3 số người bệnh là phụ nữ. Sau tuổi 45 tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao hơn nam giới(gấp 1, 5-2 lần). Thoái hóa khớp hay tấn công phụ nữ trẻ sau kỳ mang thai và sinh nở, gây các cơn đau đớn.

Nguyên nhân gây bệnh thoái hóa khớp ?

Thoái hóa khớp phần lớn không có nguyên nhân rõ rệt. Các yếu tố thúc đẩy quá trình thoái hóa bao gồm tuổi tác, béo phì, chấn thương nhẹ và mạn tính ở khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong quá trình lão hóa, chức năng chống đỡ của sụn bị suy giảm và dễ hư hỏng khi khớp cử động. Thêm vào đó, các chấn thương tuy nhẹ nhưng kéo dài nhiều năm do khuân vác đồ nặng, cũng làm tăng gánh nặng cho các khớp, khiến sự thoái hóa thêm trầm trọng. Ngoài ra, yếu tố di truyền và di chứng từ các bệnh lý khác cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Điều trị thoái khớp như thế nào?

Nếu thấy đau nhức ở các khớp và khó di chuyển trong hai tuần, nên đi bệnh viện khám để xác định loại thoái hóa khớp. Việc chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giúp giảm thiểu cơn đau và nguy cơ tàn phế. Hiện có hai phương pháp điều trị : Dùng thuốc và không dùng thuốc. Tùy theo thể trạng bệnh mà bác sỹ sẽ có phương pháp áp dụng thích hợp.

Cách phòng ngừa thoái hóa khớp

Để phòng ngừa và hạn chế cơn đau do thoái hóa khớp trong sinh hoạt bạn nên lưu ý những điều sau đây:
+ Giảm cân: Hãy cố gắng giảm cân, nếu cân nặng của bạn vượt chuẩn. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu, bởi nó sẽ giúp giảm áp lực cho khớp.
+ Tập luyện:Tập luyện sẽ đem lại những lợi ích nhất định đối với người mắc chứng viêm khớp. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng, khi cơn đau hoành hành thì càng ít hoạt động càng tốt, bởi điều đó chỉ làm cảm giác đau đớn kéo dài thêm. Tuy nhiên, bạn nên lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp với tình trạng sức khỏe bản thân. Ví như các động tác nhẹ nhàng nhưng có tác dụng thư giãn khớp, tránh tình trạng để cho các khớp bị ỳ ít hoạt động.

Ngoài ra bạn cũng có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các nhà vật lý trị liệu, để thực hiện các baì tập chống lại các cơn đau khớp. Hoặc áp dụng các biện pháp châm cứu.

Chế độ ăn uống: Trong chế độ ăn uống cũng nên chú ý các điểm sau:
+ Hạn chế đồ uống có cồn:Bạn hãy tránh sử dung các loại đồ uống như rượu, bia và các nước giải khát có cồn.
+ Tránh ăn những thực phẩm có hàm lượng Purin và fructose cao như cá trích, thịt gia súc, gan và thịt lợn muối.
+ Cần tránh tất cả các món ăn làm tăng mở trong máu như: Thịt mỡ, bơ, xúc xích, dăm bông và ngay cả bánh kẹo cũng nên hạn chế, vì sẽ làm gia tăng tình trạng viêm tấy. Nên ăn bổ sung thêm thực phẩm có chứa acid omega- 3. Tăng cường vitamin D qua chế độ ăn uống và uống viên nén sẽ có tác dụng giảm đau lâu dài
+ Tăng cường các loại trái cây như đu đủ, dứa, chanh, bưởi, , vì các loại trái cây này là nguồn cung cấp các loại men kháng viêm và sinh tố C hai hoạt chất kháng viêm. n

PGS-TS Hoàng Long

Điều trị bệnh lý khớp xương theo y học cổ truyền

Điều trị bệnh lý khớp xương theo y học cổ truyền
I. Quan niệm của YHCT về bệnh khớp xương
YHCT quan niệm tất cả các bệnh có đau nhức ở khớp xương, có sưng nóng đỏ hay chỉ tê, nặng ở tại khớp đều nằm trong phạm trù chứng tý hay bệnh tý. Tý có nghĩa là tắc nghẽn không thông.

Điều trị bệnh lý khớp xương theo YHCTQuan niệm về bệnh sinh:

- Do sức đề kháng và khả năng tự bảo vệ của cơ thể không đầy đủ, các yếu tố gây bệnh là Phong – Hàn - Thấp cùng phối hợp tác động xâm phạm đến kinh lạc – cơ – khớp, làm cho sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn không thông gây ra sưng đau, hoặc không sưng mà chỉ đau tê mỏi nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân.
- Do chính khí hư suy vì mắc bệnh lâu ngày, hay do người già các chức năng hoạt động cơ thể bị suy yếu, làm cho khí huyết cũng giảm sút không nuôi dưỡng được cân mạch gây nên tình trạng thoái hóa khớp xương và gây nên đau. Vì vậy khi chữa các bệnh về khớp, các phương pháp chữa theo YHCT đều nhằm lưu thông khí huyết ở cân ở xương, đưa các yếu tố gây bệnh (phong, hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài và đề phòng chống lại các hiện tượng báo động sự tái phát của bệnh khớp xương.

Quan niệm về chẩn đoán:

- YHCT chẩn đoán bệnh dựa trên quan sát, hỏi và thăm khám người bệnh, riêng đối với bệnh lý khớp xương, dựa trên nguyên nhân gây bệnh tùy thuộc vào biểu hiện chứng trội mà chẩn đoán bệnh như: biểu hiện đau không cố định, di chuyển từ nơi này sang nơi khác, kèm theo sợ gió, nổi mẩn ngứa… thì được chẩn đoán là phong tý và như thế sẽ có nhiệt tý, thấp tý, hàn tý…
- Ngoài ra, việc chẩn đoán còn dựa trên các chức năng tạng phủ của cơ thể, tùy thuộc vào triệu chứng sẽ có chẩn đoán tạng bệnh kèm theo như can thận hư, tâm tỳ hư…
- Trên lâm sàng, thường bệnh nhân có biểu hiện các triệu chứng phối hợp, ít khi tách bạch từng biểu hiện riêng biệt, nên thực tế lâm sàng thường có các chẩn đoán bệnh lý như: phong hàn thấp tý, phpng thấp nhiệt tý, chứng tý can thận âm hư…

Quan niệm về điều trị:

- Do quan niệm sưng – đau khớp xương là do tắc nghẽn sự vận hành của khí huyết, và do chức năng tạng phủ suy yếu ảnh hưởng đến việc tạo ra khí huyết làm cho khí huyết giảm sút không nuôi dưỡng cân mạch đầy đủ gây ra đau nhức khớp xương nên việc điều trị nhằm vào mục tiêu giải tỏa sự tác nghẽn, đuổi nguyên nhân gây bệnh ra ngoài và bổ dưỡng khí huyết - mạnh gân xương.
- Các phương pháp điều trị bao gồm từ không dùng thuốc như: tập luyện vận động, dưỡng sinh, xoa bóp, chườm nóng, ăn uống và châm cứu, đến việc dùng thuốc vào điều trị bên ngoài như đắp bó thuốc ngoài khớp sưng đau đến uống trong, sử dụng các loại thực vật, động vật và khoáng chất vào điều trị.
- Trong việc điều trị, các thầy thuốc YHCT còn chú ý đến bệnh mới mắc hay bệnh đã lâu ngày, hoặc tái phát nhiều lần. Nếu nới mắc thì dùng các phương pháp để loại bỏ yếu tố gây bệnh (phong, hàn, thấp) là chính, nếu bệnh lâu ngày hay tái phát nhiều lần thì vừa phù chính (nâng đỡ tống trạng, bổ khí huyết), vừa loại bỏ yếu tố gây bệnh để tránh tái phát và đề phòng những biến chứng và những di chứng về sau.

II. Điều trị bệnh khớp xương bằng YHCT

1. Bệnh khớp không có biểu hiện: sưng, nóng, đỏ

- Triệu chứng chung là đau mỏi các khớp, mưa lạnh, ẩm thấp đau tăng, thường hay tái phát mỗi khi thay đổi thời tiết. Bệnh âm ỉ kéo dài, thường kèm theo các rối loạn khác như rối loạn tiêu hóa, mất ngủ, ăn uống kém…
- Riêng cho từng thể bệnh lâm sàng: nếu thiên về phong chứng sẽ có thêm triệu chứng như: đau di chuyển các khớp, đau nhiều khớp thường là các khớp phần trên cơ thể như cổ, vai, khuỷu tay, cổ tay, bàn ngón tay, đau đầu, sợ gió, rêu lưỡi trắng. Nếu thiên về thấp chứng thêm các triệu chứng: đau cố định tại các khớp bệnh, không di chuyển, kèm theo tê nặng mỏi là chủ yếu. Nếu thiên về hàn chứng thì đau nhiều về đêm, trời lạnh đau tăng, chườm nóng giảm đau, đau kiểu co thắt và buốt.
- Điều trị:

1.1. Nguyên tắc chung:

•    Ăn uống đầy đủ chất, không kiêng khem quá đáng nếu không có yêu cầu của thầy thuốc, chú ý ăn thức ăn giàu đạm, nhiều khoáng chất và vitamin, uống nước đủ mỗi ngày trung bình từ 1,2 lít trở lên, không ăn uống nhiều chất kích thích hoặc khó tiêu.
•    Tập luyện nhẹ: như đi bộ, tập thái cực quyền, tập dưỡng sinh.
•    Đi gậy nếu là đau khớp gối hoặc khớp háng.
•    Chườm muối nóng vào các khớp đau như cột sống, nhượng chân, vai, hoặc dùng đèn hồng ngoại chiếu vào khớp đau, chú ý liều lượng về thời gian chiếu đèn, tránh biến chứng phỏng da cho bệnh nhân.
•    Xoa bóp để tăng cường sự vận hành của khí - huyết.
•    Châm cứu giúp giảm đau, điều chỉnh sự tắc nghẽn khí huyết và bổ dưỡng.
•    Dùng thuốc theo biện chứng luận trị.

1.2. Điều trị cụ thể:

1.2.1. Bài thuốc chung
•    Lá lốt 12g Quế chi 12g; Cỏ xước 16g;Hà thủ ô 12g;Trinh nữ 12g; Thiên niên kiện  12g;Thổ phục linh 12g;Sinh địa  20g
•    Công thức huyệt chung: áp thống điểm tại chỗ và quanh khớp đau.

1.2.2. Gia giảm theo từng trường hợp:
Nếu là phong chứng trội:
•    Dùng bài thuốc chung trên gia thêm các vị như: phòng phong, khương hoạt mỗi vị thuốc12g.
•    Công thức huyệt dùng áp thống chung như trên và châm thêm các huyệt như: hợp cốc, phong môn, phong trì, huyết hải, túc tam lý, cách du.

Nếu là thấp chứng trội:
•    Dùng bài thuốc chung nêu trên gia thêm: ý dĩ 16g, ngũ gia bì 12g, tỳ giải 16g.
•    Châm cứu dùng áp thống chung như trên, châm thêm các huyệt như: túc tam lý, tam âm giao, tỳ du, thái khuê, huyết hải.
•    Nếu mắc bệnh đã lâu và tái phát nhiều lần có thể dùng bài thuốc
Khương hoạt  8g; Xích thước 12g; Hoàng kỳ 12g; Cam thảo 6g; Đại táo 12g; Phòng  phong 8g; Khương hoàng 12g; Đương quy 8g; Gừng 4g

Nếu là hàn chứng trội
•    Dùng bài thuốc chung nêu trên, gia thêm các vị như: can khương 4g, phụ tử 8g, xuyên khung 12g.
•    Châm cứu: dùng công thức chung trên và cứu ấm thêm các huyệt như: quan nguyên, khí hải, tác tam lý, tam âm giao.

1.3. Phòng tránh tái phát:
Có thể dùng bài thuốc thấp khớp kinh điển là bài độc hoạt tang ký sinh thang gia giảm gồm các vị thuốc sau: độc hoạt 8g, phòng phong 8g, tang ký sinh 12g, tần giao 8g, tế tân 4g, ngưu tất 8g, đỗ trọng 8g, đương quy 12g, bạch thược 12g, xuyên khung 8g, sinh địa 12g, đảng sâm 12g, phục linh 9g, cam thảo 6g, quế tâm 4g.

2. Bệnh khớp có sưng, nóng, đỏ:

2.1. Giai đoạn cấp tính YHCT gọi là phong thấp nhiệt tý
Triệu chứng: các khớp sưng nóng đỏ đau (hay xuất hiện đối xứng) cự án, ngày nhẹ đêm nặng, co duỗi cử động khó khăn, sốt ra mồ hôi, rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi đỏ, nước tiểu vàng.
Bài thuốc
Bài 1: bạch hổ quế chi thang gia vị:
Thạch cao  20g; Quế chi 6g;Tri mẫu 12g;Hoàng bá 12g;Thương truật 8g;Kim   ngân 20g;Tang chỉ 12g; Phòng kỷ12g; Ngạnh mễ 12g
Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu có hồng ban hoặc khớp sưng đỏ nhiều gia thêm đan bì 12g, xích thược 8g, sinh địa 20g.
Bài 2: quế chi thược dược tri mẫu thang gia vị:
Quế chi 8g ;Tri mẫu12g;Bạch thược 12g;Bạch truật12g;Cam thảo  6g; Phòng phong 12g
Ma hoàng 8g; Kim ngân hoa16g; Liên kiều 12g
Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu các khớp sưng đau kéo dài, sốt nhẹ, nhiều mồ hôi, miệng khô, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác YHCT gọi là thấp nhiệt thương âm.
Vẫn dùng các bài thuốc trên, bỏ quế chi gia thêm các thuốc bổ âm như sinh địa, huyền sâm, địa cốt bì, sa sâm, miết giáp, thạch hộc…
Châm cứu: châm các huyệt tại các khớp sưng đau và vùng lân cận, toàn thân châm huyệt hợp cốc, phong môn, túc tam lý, huyết hải, đại chùy…

2.2. Giai đoạn mạn tính có thêm các biến chứng như biến dạng khớp, teo cơ, dính cứng khớp:
Dùng các bài thuốc ở phần trên, thêm các vị thuốc sau:
Nam tinh chế 8g;Xuyên sơn giáp 8g;Bạch giới tử sao 8g;Đào nhân 8g;Bạch cương tàm 12g;Hồng hoa 8g
Châm cứu: châm các huyệt như phần trên.
Xoa bóp: tại các khớp bằng các thủ thuật ấn, day, lần, véo các khớp và các cơ quan khớp.
Vận động: vừa xoa bóp vừa vận động các khớp theo các tư thế động tác cơ năng. Vận động từng bước, động viên người bệnh chịu đựng, dần dần tới lúc các khớp hồi phục các động tác cơ năng.
Xoa bóp vận động là phương pháp chủ yếu và quyết định kết quả chữa bệnh trong giai đoạn này.

2.3. Đề phòng bệnh thấp tái phát

2.3.1. Dùng thuốc uống phòng: như đã trình bày ở trên, bệnh do các yếu tố phong, hàn, thấp, nhiệt xâm nhập vào cơ thể, trong điều kiện cơ thể người bệnh bẩm tố âm hư, huyết nhiệt, chính khí hư suy mà gây bệnh hoặc tái phát, nên ngoài việc điều trị để phòng tránh tái phát, sau khi bệnh đã ổn định có thể dùng thuốc như sau:
Bài thuốc: độc hoạt tang ký sinh thang.
Độc hoạt ký sinh thang dạng bột hay dạng trà hoặc dạng thang thuốc sắc để bổ can thận, bổ khí huyết:
Độc hoạt12g; Phòng phong 12g; Ngưu tất 12 g; Đỗ trong 12g; Tang ký sinh 1g;Tế tân 8g;Tần giao 8g; Đương quy 8g; Đảng sâm 12g;Phục linh 12g;Quế chi 8g; Sinh địa 12g;Bạch thược 12g,Cam thảo 6g; Phụ tử chế 8g

2.3.2. Xoa bóp, luyện tập thường xuyên, tự rèn luyện để cơ chế thích ứng dần với mọi hoàn cảnh thời tiết: lạnh, ẩm thấp, gió, mưa…

TS. Nguyễn Thị Bay