Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Dinh dưỡng và sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dinh dưỡng và sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

Chữa bệnh hoa mắt chóng mặt theo Đông y

Theo y học hiện đại thì hoa mắt chóng mặt là một triệu chứng của nhiều bệnh khác nhau trong đó hay gặp là tăng huyết áp, hội chứng rối loạn tiền đình, thiếu máu, xơ cứng động mạch não...

Theo y học cổ truyền hiện tượng hoa mắt chóng mặt đột ngột - mặt mày xây xẩm là "huyễn vựng". "Huyễn" có nghĩa là hoa mắt, trước mắt tối sầm, không nhìn thấy gì; "vựng" là choáng váng, có cảm giác mọi vật quay cuồng, mất thăng bằng không thể đứng vững. Hoa mắt và chóng mặt hay xuất hiện đồng thời, cho nên Đông y gọi chung là "huyễn vựng".

Có nhiều cách chữa chứng bệnh hoa mắt chóng mặt, dưới đây là một số cách đơn giảm để hỗ trợ làm giảm hoa mắt chóng mặt.

Với biểu hiện chủ yếu của thể bệnh này là: Thỉnh thoảng bỗng nhiên bị hoa mắt, chóng mặt, kèm theo tai ù, có tiếng như ve kêu, buồn nôn ... Mỗi khi tình cảm biến động mạnh, hoặc tinh thần căng thẳng, thì bệnh phát nặng hơn. Thường ngày hay đau đầu, thỉnh thoảng mặt đỏ bừng từng cơn, bồn chồn, dễ cáu giận, ngủ ít, mộng nhiều, miệng đắng hoặc chua, ngực sườn đầy trướng, nóng rét qua lại, lưỡi không rêu, mạch huyền (căng như dây đàn). Có thể sử dụng bài thuốc, để chữa:

Bài 1: Hạ khô thảo 20g, thịt lợn nạc 50g, mắm muối và gia vị lượng thích lượng. Thịt lợn nạc thái lát mỏng, cho vào nồi cùng với hạ khô thảo, thêm lượng nước thích hợp, nấu nhỏ lửa tới khi thịt chín nhừ, thêm mắm muối và gia vị, dùng làm thức ăn trong bữa trưa. Dùng liên tục 7-8 ngày.
Bài 2: Đẳng sâm 20g, bạch truật 10g, xuyên khung 5g, bán hạ chế (tẩm nước gừng, sao vàng) 10g, hương phụ (củ gấu) 15g, sài hồ 12g, kinh giới 10g, câu đằng 10g, chi tử (dành dành) 10g, cam thảo 5g. Sắc với 1500 ml nước, đun cạn còn 600ml, chia thành 3 phần uống trong ngày vào lúc đói bụng. Liên tục 7-8 ngày (một liệu trình), nghỉ 3 ngày, lại tiếp tục liệu trình khác.

Với biểu hiện bỗng nhiên hoa mắt chóng mặt, ngực ngột ngạt, lợm giọng, nôn mửa, tai ù. Thường ngày thấy đầu nặng, tinh thần thiếu tỉnh táo, người uể oải, ngại cử động, chân tay tê - trướng - đau, ăn kém, ngủ nhiều, chất lưỡu bệu ở rìa có vết răng, rêu lưỡi cáu bẩn, mạch hoạt (trơn). Có thể sử dụng bài thuốc, hoặc món ăn - bài thuốc sau:

Bài 1: Vỏ quít tươi 20g (khô 10g), ý dĩ 50g. Nấu cháo ăn trong ngày, ăn liên tục 7-8 ngày (một liệu trình).
Bài 2: Đẳng sâm 20g, bạch truật 15g, táo đỏ (táo tàu) 5 quả, xuyên khung 6g, hương phụ 15g, bạch chỉ 10g, ý dĩ 15g, can khương 5g, bán hạ chế 10g, trần bì 6g, cam thảo 5g. Sắc với 1000 ml nước, đun cạn còn 300ml, chia thành 3 phần uống trong ngày vào lúc đói bụng. Dùng liên tục 7-8 ngày (một liệu trình).

Với biểu hiện vận động mạnh một chút là mặt mày đột nhiên xây xẩm: Thường ngày người mệt mỏi, tinh thần uể oải, hơi thở yếu, ngại nói, sắc diện không tươi, môi và móng chân tay nhợt nhạt, tóc khô, trống ngực, tim đập dồn loạn nhịp từng cơn, ngủ ít, ăn uống giảm, bụng đầy, chất lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế nhược (nhỏ yếu). Có thể áp dụng bài thuốc sau:

Bài 1: Hà thủ ô 30-60g, gạo tẻ 90g, táo tầu 4 quả (sấy khô), đường phèn lượng thích hợp. Sắc hà thủ ô lấy nước (bỏ bã), đem nấu với táo tầu, gạo tẻ thành cháo, chia ra ăn trong ngày. Dùng liên tục 7-8 ngày (một liệu trình).
Bài 2: Đẳng sâm 12g, hoàng kỳ 15g, bạch truật 12g, đương quy 12g, phục linh 10g, long nhãn 9g, viễn chí 6g, táo nhân (sao đen) 12g, mộc hương 9g, đại táo 7 trái, cam thảo 6g. Sắc với 1200 ml nước, đun cạn còn 300ml, chia thành 2 phần uống lúc sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng liên tục 7-8 ngày (một liệu trình).

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010

Chế độ dinh dưỡng cho người cao tuổi

Lựa chọn thực phẩm phù hợp
Nhu cầu năng lượng của con người giảm đi theo thời gian, khi về già, người cao tuổi ăn ít hơn so với lúc còn trẻ. Tuy nhiên, có nhiều người khi ăn vẫn thấy ngon miệng, không giảm chế độ ăn nên mắc các bệnh như béo phì, tăng huyết áp. Vì vậy, khi về già, người cao tuổi nên ăn ít hơn, chọn lựa các thực phẩm phù hợp. Các sinh tố và muối khoáng cần cho sự hoạt động của cơ thể có sẵn trong các thực phẩm hằng ngày: nên hạn chế dùng gạo, thịt, mỡ, đường, bánh kẹo, rượu bia, chế độ ăn nhạt là phù hợp.

Chế độ dinh dưỡng cho người cao tuổi

Nên ăn nhiều đậu, lạc, vừng, các loại củ

Tốt nhất nên ăn gạo lứt và có thể thay thế bằng gạo dẻo, không mốc và không xát trắng quá. Việc tiêu hoá, hấp thụ các chất đạm đối với người cao tuổi rất kém nên việc bổ sung chất béo, chất đạm từ thực vật như lạc, đậu và vừng là rất quan trọng. Đặc biệt là các chế phẩm từ đậu nành như đậu phụ, giá đậu nành, đậu nành còn có tác dụng phòng, chống ung thư.

Ăn nhiều rau tươi, quả chín

Đối với người cao tuổi, táo bón luôn là nỗi “bức xúc”. Táo bón ở người cao tuổi là do ít vận động, ăn không đủ chất xơ, uống không đủ nước, sức co bóp của dạ dày giảm... Vì vậy, người cao tuổi nên chú ý ăn nhiều rau tươi, quả chín để bổ sung chất xơ nhằm kích thích nhu cầu động ruột, tránh gây táo bón. Các thực phẩm nên ăn là: Cà chua (giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt), bắp cải, su-lơ (chống ung thư bàng quang)... Quan trọng hơn cả,, rau quả tươi còn cung cấp các loại vi-ta-min, các yếu tố vi lượng và các chất chống ô-xy hoá.

Chế độ dinh dưỡng hợp lí

Ngoài việc lựa chọn thực phẩm, khẩu phần ăn thì việc ăn đúng, ăn đủ rất quan trọng. Tránh để người già ăn quá no, tránh thức ăn cứng và nhất định trong bữa ăn hằng ngày nên có canh (theo mùa). Canh vừa cung cấp nước lại bổ sung các chất dinh dưỡng cho cơ thể. Thức ăn phải chế biến dưới dạng ninh nhừ, thái nhỏ, hấp... Khi ăn uống, người cao tuổi phải bảo đảm đa dạng thực phẩm, ăn đúng giờ, nhai kĩ, nuốt chậm. Người già cũng không nên ăn mặn vì cơ thể sẽ thừa muối làm ảnh hưởng tới tim, thận...

Rèn luyện thể chất
Khi về già, người cao tuổi thường mắc rất nhiều bệnh như tăng huyết áp, tim mạch, suy giảm trí nhớ, rối loạn tuần hoàn não... nên việc vận động cơ thể là rất quan trọng, nên rèn luyện cơ thể bằng cách đi bộ từ 1-2 giờ mỗi ngày, đều đặn và theo chế độ áp dụng phương pháp thích hợp cho từng người, từng loại bệnh.
(Theo Người cao tuổi)

Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010

Dinh dưỡng cho người bị huyết áp cao

Biểu hiện của tình trạng huyết áp tăng cao thường là choáng váng, đau đầu, ù tai mất ngủ… Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc, ăn uống khoa học cũng trợ giúp rất nhiều trong việc phòng trị căn bệnh này.

Dinh dưỡng cho người bị huyết áp cao

1. Hạn chế rượu bia
Khi bị bệnh cao huyết áp nên tránh xa rượu bia và các loại đồ uống có cồn khác: nam giới không quá 3 ly rượu/ngày, nữ giới không quá 2 ly/ngày.

 2. Kiểm soát cân nặng

Thừa cân, béo phì là kẻ thù số 1 gây ra các bệnh về tim và động mạch. Đặc biệt, khi có tiền sử cao huyết áp, cần chú ý chế độ dinh dưỡng giúp kiểm soát trọng lượng.

 3. Tránh xa muối


Thường các bác sĩ điều trị cao huyết áp sẽ khuyên bệnh nhân hạn chế muối (tối đa 6gr muối/ngày) và tránh xa các loại thực phẩm chứa nhiều natri như: thịt hun khói, đồ hộp, đồ đông lạnh, các món ăn được chế biến quá cầu kỳ, nhiều gia vị, đặc biệt là pho mát.

Ngoài ra, hãy dè chừng với lượng muối có trong bột ngũ cốc và bánh bích quy. Tuyệt đối không nên dùng các loại thực phẩm này trong bữa sáng.
4. “Kết thân” với dầu thực vật

Khi bị bệnh cao huyết áp, nhất thiết phải tránh xa các loại chất béo bão hoà (còn gọi là chất béo no). Hãy dùng dầu thực vật thay cho mỡ động vật trong bữa ăn hàng ngày để bảo vệ sức khoẻ của bạn và cả gia đình. Nói lời tạm biệt với các loại bơ, dầu mỡ động vật và kết thân với dầu thực vật!

5. Hạn chế ăn thịt

Khi mắc chứng cao huyết áp, bạn nên chọn các loại thịt nạc; hạn chế thịt bò, thịt lợn và thịt cừu; thay vào đó là cá và thịt gia cầm!

6. Ưu tiên ngũ cốc nguyên cám

Trong tất cả các nguồn thực phẩm tinh bột, hãy ưu tiên ngũ cốc nguyên cám. Loại thực phẩm này không những cung cấp đầy đủ dinh dưỡng hơn các loại thực phẩm cùng chức năng mà còn cung cấp lượng chất xơ đáng kể cho cơ thể.

7. Hạn chế đồ ăn nhiều dầu mỡ

Nên chọn cách làm chín thực phẩm dùng càng ít dầu mỡ càng tốt như luộc, hấp, nướng.
8. “Bỏ phiếu” cho thực phẩm đã tách béo

Đừng do dự khi lựa chọn các loại thực phẩm đã tách béo, tách kem trong số vô vàn các loại thực phẩm đóng hộp, ăn liền khác. Bởi đây là lựa chọn tối ưu nhất khi bị cao huyết áp.
9. Vận động nhiều hơn

Một bài tập thể dục thích hợp tốt cho sức khoẻ của tất cả mọi người, không loại trừ bệnh nhân cao huyết áp. Tuy nhiên, hãy chọn các bài tập nhẹ nhàng như đi bộ nhanh, đạp xe và bơi lội, tránh các bài tập quá sức!

10. Ăn nhiều hoa quả


Một điều không có gì mới mẻ nhưng sẽ không bao giờ là cũ, đó là, rau quả luôn là “đồng minh” với sức khoẻ của con người. Bạn cần bổ sung đầy đủ loại thực phẩm này mỗi ngày, nhất là đối với bệnh nhân mắc chứng cao huyết áp.

Hãy chọn các loại rau quả giàu kali như dưa hấu, cam, bưởi, dâu, cần tây, cải bó xôi… Ngoài ra, cơm dừa - món khoái khẩu của chị em cũng chứa rất nhiều kali.
  
Huyền Thu
(Theo Doctissmo)

Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ

Dưới đây là một số loại thực phẩm không chỉ cung cấp năng lượng cho cơ thể, ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh mà còn có thể giúp bạn kéo dài tuổi thọ.

1. Chocolate
Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ
Các loại chocolate màu sậm sẽ giúp bảo vệ tim mạch bằng cách giảm huyết áp và cung cấp chất chống oxy hóa để tăng cường miễn dịch. Bạn có thể trữ chocolate trong tủ lạnh để ăn dần, mỗi lần vài viên nhỏ.

2. Phô mai
Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ
Dùng phô mai ít béo là cách tuyệt vời để tăng cường dinh dưỡng cho xương đồng thời tái tạo cơ bắp. Phô mai ít sodium (na-tri), giàu canxi và rất dễ kết hợp trong các bữa ăn: bạn có thể thêm vào bánh mì trong bữa ăn sáng hay mì spaghetti để tăng cường protein và canxi mỗi ngày.

3. Khoai lang
Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ
 Khoai lang là một trong những loại củ giàu dinh dưỡng nhất trong họ củ quả vì phong phú chất chống oxy hóa và chất giảm sưng. Khoai lang cung cấp một lượng đường glucose cần thiết cho hoạt động não bộ, cơ bắp và các bộ phận khác của cơ thể.

4. Ớt
Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ
Ớt giúp tăng vị ngon cho các bữa ăn đồng thời tăng cường miễn dịch cho cơ thể. Chất capsaicin tạo vị cay của ớt còn đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa béo phì, chống ung thư và tiểu đường, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây hại đường ruột.

5. Củ cải
Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ
Có thể gọi củ cải là người bạn thân thiết của tim, xương và mắt vì loại củ này rất giàu vitamin, chất chống oxy hóa và canxi. Củ cải giúp tăng cường hoạt động mạch máu để chúng vận hành hiệu quả hơn, ngăn ngừa tình trạng tắc mạch máu dẫn đến bệnh tim mạch.

6. Cá tuyết
Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ
Cá tuyết cung cấp cho bạn toàn bộ những lợi ích của các loại hải sản mà bạn không phải lo lắng về lượng thủy ngân và calori. Cá tuyết giàu axit béo omega 3, tiêu diệt chất triglycerides có hại cho tim. Cá tuyết còn chứa chất chống sưng, giúp giảm bệnh tăng huyết áp.

7. Táo
Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ
Táo giòn và rất giàu chất xơ, giúp giảm phản ứng dị ứng, bảo vệ cơ thể khỏi ung thư và tiểu đường, giúp giảm cholesterol và giảm ảnh hưởng của các cơn táo bón hoặc tiêu chảy.

8. Hạt óc chó
 Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ 
Hạt óc chó được xem là ngôi sao của thực phẩm nhờ có hiệu quả tốt cho tim mạch. Hạt óc chó rất giàu a-xit beo omega 3, vì thế chỉ cần dùng khoảng 1/4 tách hạt vài lần/tuần là đủ giúp cung cấp chất xơ, protein và chất chống viêm cho cơ thể. Hạt óc chó còn chứa axit ellagin, một chất có khả năng chống ung thư.

9. Quả mâm xôi
Một số loại thực phẩm giúp tăng cường tuổi thọ
Quả mâm xôi được xếp hạng cao nhất về hàm lượng chất chống oxy hóa trong số các loại trái cây và rau củ. Quả mâm xôi còn giúp ngăn ngừa vi khuẩn không bám vào vách đường tiểu, giúp ích cho việc điều trị các bệnh nhiễm trùng đường tiểu.

Theo iVillage

Thứ Ba, 28 tháng 9, 2010

Chế độ dinh dưỡng cho người cao tuổi

Khoảng 85% người có tuổi bị ít nhất một bệnh mạn tính và họ có thể cải thiện tình hình sức khỏe thông qua chế độ ăn. GS. Albert Barrocas, chuyên gia về ngoại khoa và dinh dưỡng tại New Orleans cho biết: “Chế độ ăn tốt không phải phương thuốc trị bệnh, nhưng nó có thể giảm bớt những đau đớn của người bệnh, thậm chí còn giúp một số người không phải dùng thuốc”.

Chế độ dinh dưỡng cho người cao tuổi

Đối mặt với nguy cơ suy dinh dưỡng

Trong khi ở người trẻ tuổi, thừa cân là nguy cơ lớn gây đái tháo đường và bệnh tim mạch, thì người cao tuổi lại phải đối đầu với nguy cơ suy dinh dưỡng. Khi bạn đời khuất núi, người còn lại sẽ chẳng thiết nấu nướng hoặc không biết làm thế nào để có bữa ăn lành mạnh. Bệnh viêm khớp, bệnh tim hay các bệnh khác khiến việc nấu ăn trở nên khó khăn. Bệnh Alzheimer làm người bệnh quên ăn. Khi dùng kháng sinh, người bệnh có thể thấy miệng đắng ngắt. Tóm lại, có vô số lý do khiến người cao tuổi có thể rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng. Điều này không có lợi vì họ sẽ không đủ sức chống lại bệnh tật.

8 sáng kiến sàng lọc dinh dưỡng

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, với người cao tuổi, thừa 10% trọng lượng tốt hơn là thiếu 10%. Vì vậy, các chuyên gia của Hội dinh dưỡng Hoa Kỳ đã kết hợp với Viện hàn lâm Bác sĩ Gia đình (tổ chức bác sĩ về chăm sóc sức khỏe ban đầu lớn nhất Hoa Kỳ), đề ra “Sáng kiến Sàng lọc Dinh dưỡng”. Đây là những hướng dẫn thiết thực, còn ít được biết đến, về chế độ dinh dưỡng cho người có tuổi, liên quan tới 8 bệnh mạn tính như: ung thư, sa sút trí tuệ, đái tháo đường, huyết áp cao, loãng xương... Nội dung khuyến cáo này bao gồm:
1. Kiểm soát sự thiếu cân: trọng lượng 55kg có thể là vừa với một người cao 165cm ở độ tuổi 30, nhưng lại là thiếu với người 65 tuổi. Sụt 4,5kg ngoài ý muốn trong 6 tháng là một dấu hiệu nguy hiểm. Ví dụ, sự giảm cân đột ngột ở người cao tuổi có thể là dấu hiệu sớm của sa sút trí tuệ.

2. Một số thuốc thông dụng, như digoxin để điều trị suy tim, có thể làm giảm trầm trọng sự thèm ăn của người cao tuổi.

3. Người có tuổi thường không cảm thấy ngon miệng khi ăn thịt, nhưng protein tạo nên cơ bắp và giúp cơ thể phục hồi sau bệnh tật. Nên nhớ tới những thức ăn giàu đạm khác như: đậu, bơ, lạc và trứng.

4. Khi có tuổi, người ta thường thích ăn ngọt. Thói quen này không phải là xấu. Bệnh nhân Alzheimer cần tăng cân có thể dùng món bánh rán nếu họ thích. Năng lượng giúp trì hoãn thời điểm phải nuôi bệnh nhân qua ống. Hãy dùng những thức ăn được cắt nhỏ bằng ngón tay, vì người bệnh có thể đã quên cách dùng đũa.

5. Đảm bảo là người bệnh huyết áp cao dùng đủ canxi. Đây là cách tự nhiên để làm giảm huyết áp. Tất cả bệnh nhân có nguy cơ suy tim phải giảm lượng muối ăn.

6. Dùng đủ nước. Trung bình mỗi ngày cần uống 6 - 8 cốc (225ml) các loại: nước trắng, nước hoa quả, sữa, trà, cà phê.

7. Rất nhiều chuyên gia khuyến cáo dùng bổ sung vitamin B12 ở người cao tuổi, vì cùng với tuổi tác, sự hấp thu chất này cũng giảm.

8. Thay đổi lời khuyên về chế độ ăn cho phù hợp với từng bệnh nhân. Đa số bệnh nhân thận cần chế độ ăn nghèo đạm, nhưng một số dạng bệnh thận lại cần nhiều đạm hơn một chút.

(Theo SKDS)

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

Những thức ăn có lợi cho sức khỏe người cao tuổi

Sự suy giảm của hệ thống tiêu hóa, răng miệng và không ít những bệnh lý mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch, rối loạn mỡ máu... khiến người cao tuổi có những khó khăn khi lựa chọn thức ăn. Nhiều người lo lắng quá đến mức quá kiêng khem dẫn đến cơ thể bị thiếu hụt chất dinh dưỡng. Vậy người cao tuổi nên lựa chọn những thức ăn thế nào cho phù hợp?

Những thức ăn có lợi cho sức khỏe người cao tuổi
Súp lơ xanh chứa nhiều chất xơ


Thức ăn giàu chất xơ là lựa chọn hàng đầu

Đây là nhóm thức ăn được khuyến cáo cần thiết sử dụng cho nhiều bệnh mạn tính đang có xu hướng gia tăng như tim mạch, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid... Tất cả các chế độ điều trị không dùng thuốc cho những bệnh nhân này đều đề cập đến dinh dưỡng giàu chất xơ. Trong đó các chuyên gia cũng chú trọng nhiều hơn đến chất xơ có trong sản phẩm tự nhiên hơn là chất xơ có trong các thức ăn chế biến sẵn. Rau quả tươi, nhất là những rau màu xanh thẫm như cải xanh, súp lơ... đều giàu chất xơ. Không chỉ có tác dụng ngăn chặn tăng đường huyết sau ăn, ổn định huyết áp, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, kiểm soát cholesterol, triglycerid... mà chất xơ còn vô cùng quan trọng cho người mắc các bệnh đường tiêu hoá như táo bón, trĩ,  dự  phòng ung thư đại tràng, chống táo bón, giúp vi khuẩn đường ruột cân bằng.

Bổ sung các vi chất bằng thức ăn

Hiện là nhóm thức ăn chức năng phổ biến nhất. Việc bổ sung vi chất có tính toàn cầu như bổ sung iốt, sắt, vitamin A vào thực phẩm đã có tác dụng phòng được các bệnh bướu cổ, thiếu máu thiếu sắt, nguy cơ mù loà do thiếu vitamin A. Nhiều quốc gia đã có chủ trương bổ sung iốt vào muối ăn, sắt vào gia vị, vitamin A vào đường. Thức ăn được bổ sung vitamin, khoáng chất nhiều là bột mì, gạo, muối, bột trẻ em, sữa, nước uống, gia vị, đường. Nước trái cây là thức uống được khuyến nghị bổ sung các nhu cầu về vitamin C, E, beta - caroten. Sữa có bổ sung acid folic, vitamin và khoáng chất cho phụ nữ có thai cũng được sử dụng ở nhiều nước. Thực phẩm có bổ sung canxi, vitamin D cho người già, phụ nữ mãn kinh đề phòng loãng xương.

Tìm kiếm acid béo thiết yếu

DHA (Docosaheaenoic acid) và ARA (Arachidonic acid) là những thành phần acid béo thiết yếu, có nhiều trong dầu thực vật, dầu cá, dầu đậu nành, là thành phần quan trọng của màng tế bào, thành phần quan trọng của  não và võng mạc. Đây là những acid béo rất cần thiết cho sức khỏe con người, đặc biệt là người già và trẻ em.

Việc bảo đảm sức khoẻ không chỉ có một chế độ dinh dưỡng hợp lý, khoa học mà còn phải có sự kết hợp tập luyện thân thể hằng ngày và một tinh thần thoải mái.

Phòng ngừa và chữa trị táo bón qua thực phẩm

Táo bón là chứng bệnh gây nhiều "đau khổ" ở người già, nhiều cụ "ôm" nhà vệ sinh hàng giờ đồng hồ mà vẫn bó tay, việc dùng các thuốc chống táo bón liên tục thực sự không có lợi. Vì thế bên cạnh việc uống đủ 1,5 lít nước/ngày người già cần biết cách phòng chống căn bệnh này bằng thực phẩm.

Các thực phẩm có tác dụng phòng chống táo bón là nhóm thức ăn có bổ sung vi sinh vật sống có lợi cho cơ thể, làm cân bằng vi khuẩn đường ruột, làm tăng cường miễn dịch ở niêm mạc ruột và miễn dịch hệ thống, cải thiện dinh dưỡng, giảm nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, tiêu cabonhydrat, chống táo bón, chống dị ứng, giảm cholesterol máu, chống sinh u, tăng hấp thụ canxi, tăng cường sự tổng hợp vitamin do vi khuẩn đường ruột. Bình thường, đường ruột của cơ thể có trên 400 chủng vi khuẩn sinh sống, tạo ra một hệ vi khuẩn ruột. Hệ vi khuẩn ruột có thể chia thành hai nhóm: nhóm vi khuẩn có lợi, làm tăng cường sức khoẻ và nhóm vi khuẩn có thể gây bệnh. Bình thường, nhóm vi khuẩn có lợi chiếm ưu thế, chiếm đa số, có từ 106 đến 1.010 vi khuẩn/gam phân, còn nhóm vi khuẩn gây bệnh là nhóm thiểu số, chỉ có dưới 106 vi khuẩn/gam phân. Một khi nhóm vi khuẩn gây bệnh chiếm ưu thế hơn nhóm vi khuẩn có lợi thì sẽ gây bệnh cho cơ thể. Vi khuẩn có lợi chính ở hệ vi khuẩn ruột là Lactobacilli và Bifidobacteria. Các vi khuẩn có lợi cho sức khoẻ có chức năng cạnh tranh không cho vi khuẩn gây bệnh định cư ở đường ruột, kích thích miễn dịch chống nhiễm khuẩn, giúp tiêu hoá và hấp thụ thức ăn, tổng hợp một số vitamin nhóm B và vitamin K. Sữa chua là một đồ ăn có chứa lactobacillus.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Phòng chống suy dinh dưỡng ở người cao tuổi

Suy dinh dưỡng (SDD) không chỉ gặp ở trẻ em mà người cao tuổi (NCT) cũng dễ gặp phải. Theo thống kê cho thấy có khoảng 1/3 số NCT bị SDD.

Một số điều kiện thuận lợi đưa đến SDD ở NCT

Phòng chống suy dinh dưỡng ở người cao tuổi
Tạo không khí vui vẻ trong bữa ăn để giúp NCT ăn được nhiều.

Ăn uống không điều độ, ăn qua loa, đại khái, ăn ít. Nhất là ăn một mình, đơn độc gây cho việc ăn uống chán chường hoặc thiếu quan tâm đến chất lượng trong mỗi bữa ăn rất có thể gây nên SDD ở NCT. Điều quan trọng nhất đưa đến SDD ở NCT là ăn uống kém chất lượng, thậm chí không đủ bữa, bữa no, bữa đói. Một số NCT thiếu thốn kinh tế hoặc có khả năng về kinh tế nhưng không có người lo cho từng bữa ăn hàng ngày, sự việc cứ kéo dài dẫn đến SDD. Ngoài ra, còn có một số NCT SDD do bệnh tật mạn tính kéo dài như: hệ thống răng kém (răng lung lay hoặc đã rụng nhiều) gây khó khăn trong việc nhai thức ăn. Tuyến nước bọt bị xơ hóa làm giảm khả năng bài tiết nước bọt (trong nước bọt có một số men rất cần cho việc làm nhuyễn thức ăn). Do chức năng sinh lý của NCT bị suy giảm, đặc biệt là các giác quan, nhất là vị giác và khứu giác cho nên không kích thích sự thèm ăn ở NCT. SDD ở NCT còn có thể gặp trong một số trường hợp dễ bị dị ứng với thức ăn, cho nên NCT “sợ ăn” vì lo sợ sau khi ăn vào sẽ bị rối loạn tiêu hóa như: buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy, đau bụng. Một số bệnh về đường tiêu hóa (nhất là bệnh về dạ dày). Bệnh về tâm thần như: bệnh trầm cảm mạn tính, sa sút trí tuệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến tiêu hóa và vì vậy rất dễ dẫn đến SDD. Nghiện rượu cũng là một nguyên nhân đáng kể, người nghiện rượu rất chán ăn, thậm chí không muốn ăn bất kỳ loại thực phẩm nào ngoài rượu. Một số trường hợp NCT bị SDD do kiêng khem quá mức cần thiết.

Biểu hiện của SDD ở NCT

Hầu hết người bị SDD có thể tự phát hiện thấy mình bị gầy đi như: sụt cân, quần áo thấy tự nhiên rộng ra, các bắp thịt thấy mềm, nhũn không được rắn chắc như trước đây. Tuy vậy, đối với một số NCT do bị SDD lâu ngày nên đã có ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, trong khi tự bản thân người đó không thể hoặc không biết mình đang mắc bệnh gì. Trong trường hợp này thì những thành viên trong gia đình cũng có thể nhận biết từ NCT là: ông, bà, bố, mẹ kém dần sự minh mẫn, hay quên hay kêu mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon miệng hay cáu gắt vô cớ. NCT SDD thường ăn khó tiêu, dễ táo bón, phân lúc lỏng lúc rắn, hay đau bụng lặt vặt. Nếu NCT mà đang mắc bệnh mạn tính khác như: hen suyễn, bệnh tim, viêm gan, bệnh về xương khớp thì các bệnh này tăng lên nhanh chóng hơn và toàn trạng trở nên dễ bị suy sụp và đặc biệt khi có tác nhân nhiễm trùng xâm nhập thì rất khó tránh khỏi mắc bệnh.

Phòng bệnh SDD ở NCT như thế nào?

Người ta nghiên cứu cho thấy rằng một cơ thể được gọi là SDD khi trọng lượng của cơ thể sụt cân từ 5 - 10% trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm, không bao hàm các bệnh làm cho cơ thể bị sụt cân nhanh như: đái tháo đường, dùng thuốc giảm béo, dùng thuốc lợi tiểu…

Rõ ràng là ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và đủ số lượng là nguồn năng lượng cần thiết cho một người không riêng gì đối với NCT (tức là phải đủ chất và đủ lượng). Ngoài ra, cần có sự động viên, nhắc nhở để NCT chịu khó ăn và ăn đủ số lượng tránh hiện tượng chán ăn, lười ăn, bỏ bữa. Sự quan tâm, động viên của các thành viên khác trong gia đình là hết sức quan trọng, đặc biệt là tìm hiểu các lý do làm cho NCT bị SDD, trên cơ sở đó tìm cách khắc phục dần. Nếu các bữa chính, NCT ăn chưa đủ số lượng thì có thể tạo điều kiện cho họ ăn thêm các bữa phụ. Nên ăn thêm các loại quả như: cam, quít, chuối, bưởi… và nên ăn nhiều rau. Trọng tâm của việc phòng SDD là làm sao NCT ăn được, tiêu hóa được vì vậy thức ăn phải mềm dễ nhai, dễ nuốt nhưng không nên xay nhuyễn vì sẽ làm giảm mùi vị thường có của thức ăn. Tuy vậy, NCT cũng nên hạn chế ăn mỡ động vật, lòng đỏ trứng hoặc các loại phủ tạng và rất nên ăn cá thay cho ăn thịt. Các loại đạm thức vật cũng nên ăn xen vào trong các bữa ăn chính như đậu phụ và các loại đậu khác. Ngoài các vấn đề vừa nêu trên thì việc vận động cơ thể hàng ngày để máu lưu thông, các cơ quan trong cơ thể hoạt động nhịp nhàng từ đó sẽ ăn uống ngon miệng, hấp thu tốt.

PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
(Theo Suckhoe & Đoisong)

Thứ Năm, 23 tháng 9, 2010

Nhai dầu mè giúp chữa bệnh

Gần đây có nhiều người truyền tay nhau tài liệu “Phương pháp chữa bệnh bằng cách nhai dầu mè” và cũng có nhiều người đã thử áp dụng. Chúng tôi đã đi tìm hiểu về vấn đề này.

Nhai dầu mè giúp chữa bệnh

Bà Thái Hồng Hảo  - Chủ nhiệm CLB Sức khỏe ngoài trời phường Kim Liên cho chúng tôi biết: Bà đã áp dụng và phổ biến phương pháp này cho một số người thân quen cùng áp dụng, vì mới áp dụng được vài tháng nên bà còn đang theo dõi hiệu quả chữa bệnh, kết quả đầu tiên mà bà thấy rõ là khỏi đau răng, răng chắc hơn và trắng hơn. Ông Trần Công Tuân ở Hội Người cao tuổi Việt Nam cũng nhai dầu mè và cùng nhận định với bà Hảo, ông còn đưa cho tôi tài liệu lấy từ mạng Internet cho biết: Bác sỹ Karach đã tường trình báo cáo này trước hội nghị All – Ukrainian. Tham dự hội nghị có các  bác sỹ chuyên khoa ung thư, các nhà vi khuẩn học, BS. Karach giải thích tiến trình chữa lành đơn giản khác thường bằng cách dùng dầu mè ép. Thật lạ lùng vì phương pháp chữa lành chắc  chắn vô hại này lại có thể đem tới những kết quả tốt đẹp như vậy.

Điểm độc đáo của phương pháp này là tính đơn giản; chỉ  gồm việc làm luân chuyển dầu mè trong miệng. Tiến trình chữa lành được thực hiện bởi chính cơ quan của con người, có thể chữa lành các tế bào, các mô và tất cả các cơ quan cùng một lúc, cơ thể tự loại trừ các độc tố mà không gây xáo trộn nào cho các tế bào lành mạnh. Theo bác sỹ Karach phương pháp trị liệu dầu mè có thể chữa được nhức đầu, viêm cuống phổi, phổi và gan , các bệnh về máu, đau khớp, nấm tràn, bệnh đường  ruột, các bệnh phụ nữ... Liệu pháp dầu mè có tác dụng cả phòng bệnh lẫn chữa bệnh. Bác sỹ Karach nói: với liệu pháp này, tôi đã khỏi bệnh nhiễm trùng máu kinh niên 15 năm và trong 3 ngày đầu của thời gian dùng liệu pháp này, tôi khỏi bệnh đau khớp nặng đã khiến tôi phải nằm liệt giường.

Thực hành: Buổi sáng trước bữa điểm tâm, lúc bụng đói hoàn toàn, bạn lấy một muỗng canh dầu mè đổ vào miệng nhưng đừng nuốt. Dầu được luân chuyển từ từ, kéo qua răng và chạm vào tất cả các  phần của màng nhầy trong khoang miệng từ 15 đến 20 phút. Dầu được nhai và hòa kỹ với nước bọt. Việc nhai kích thích các enzymes và các enzymes này rút các chất độc ra khỏi máu. Vì vậy, không được nuốt dầu vì dầu đã thấm chất độc. Khi việc nhai tiến hành , dầu trở nên loãng hơn và chuyển thành màu trắng. Nhai xong 20 phút nhổ dầu vào bồn cầu. Nếu thấy dầu mè vẫn còn màu vàng có nghĩa là bạn đã không nhai kỹ hoặc nhai chưa đủ lâu. Sau khi nhổ dầu ra thì xúc miệng vài lần để rửa miệng. Tốt hơn nữa là dùng một ly nước muối ấm để xúc miệng, răng, lợi và lưỡi cần được rửa cận thận. Có thể đánh răng bằng muối, hoặc đánh răng bằng kem đánh răng như thường ngày. Bồn rửa mặt cần được rửa sạch vì nước xúc miệng bạn nhổ ra có chứa vi trùng và chất độc của cơ thể.

Một trong những kết quả trước mắt của phương pháp này là làm chắc lại những răng bị lung lay, chữa khỏi bệnh lợi răng chảy máu và làm trắng răng. Tốt nhất là nhai dầu trước bữa ăn sáng, để mau khỏi bệnh bạn có thể làm ngày 3 lần nhưng luôn luôn trước bữa ăn khi bụng đói hoàn toàn.

Thực hành bao lâu? Bạn thực hành cho tới khi có lại sức khỏe ban đầu và ngủ ngon giấc. Những người mắc bệnh lâu năm có thể có dấu hiệu bệnh như nặng thêm lúc mới thực hành, tình trạng này là biểu hiện bệnh đang trong tiến trình chữa khỏi. Cũng có thể xảy ra thân nhiệt tăng thêm trong vài ngày sau đó sẽ thấy khá hơn. Khi thấy triệu chứng gia tăng bất thường cần báo cho bác sỹ biết để xem xét những triệu chứng này nằm trong tiến trình chữa lành hay do tình trạng nặng hơn thật sự của bệnh nhân cần phải chữa ngay. Bệnh cấp tính thường thấy kết quả khả quan rất nhanh chỉ trong vòng 2 - 3 ngày. Bệnh kinh niên thường đòi hỏi thời gian lâu hơn có khi cả năm. Cho nên đừng bao giờ nản lòng hay bỏ cuộc. Chú ý chọn mua loại dầu mè vàng, loại dầu ép dùng để ăn salad, đừng mua loại chịu được nhiệt độ cao dành cho chiên lâu vì bị mất nhiều chất.

Năm 1996, một tờ báo ở Ấn Độ đã mở cuộc điều tra về tác dụng của phương pháp này. Trong 1041 người trả lời có 927 người (89%) báo cáo đã chữa được một hay nhiều bệnh, 114 người (11%) không báo cáo bệnh nào được chữa cả.

Như vậy, kết quả của phương pháp trị liệu này đã gây ra những kinh ngạc lẫn nghi ngờ về nội dung của báo cáo. Tuy nhiên, sau khi xem xét kỹ hơn về những tác dụng của phương pháp trị liệu dầu mè, người ta thấy có thể thử nghiệm trên chính mình để kiểm chứng giá trị và sự hiệu nghiệm của nó bởi vì phương pháp này thật đơn giản và không gây biến chứng có hại.

Lan Anh  
(suckhoenct.com)

Món ăn ốc nhồi - Vị thuốc tốt

Món ăn ốc nhồi - Vị thuốc tốtỐc nhồi được chế biến thành nhiều món ăn dân dã như bún ốc, ốc xào, canh ốc, ốc luộc hay những món ăn đặc sản: ốc nhồi thịt, ốc hấp lá gừng. Ốc nhồi còn dùng làm thuốc thông lợi đại tiểu tiện, giải uất nhiệt, tiêu thũng... là vị thuốc có lợi cho cơ thể con người.

Thành phần dinh dưỡng: Ốc nhồi chứa 11,9% protid; 0,7% lipid, các vitamin (B1 0,01mg%; B2 0,06mg%; PP 1mg%); các muối (Ca 1.357mg%; P 191mg%). Ốc cung cấp 86 calo/100g thịt.

Theo Đông y, thịt ốc có vị ngọt mặn, tính hàn; vào vị, đại tràng, bàng quang. Vỏ ốc có vị ngọt, tính bình, không độc. Tác dụng lợi thủy, thanh nhiệt. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, đái khó, phù nề, vàng da, bệnh tiểu đường, trĩ. Vỏ ốc có tác dụng giải tâm phiền. Cách dùng: nấu, hầm, nướng, xào (không dùng cho trường hợp tỳ vị hư hàn).

Một số thực đơn chữa bệnh có ốc:


Canh ốc nhồi củ chuối tiêu: Ốc nhồi 500 - 1.000g, ngâm sạch, đập bỏ vỏ; củ chuối ép lấy nước đem nấu ốc, khi chín nhừ, thêm đường trắng và gia vị cho vừa ăn.

+ Ốc nhồi 500 - 1.000g, củ chuối hay quả chuối xanh 500g. Ốc nhồi ngâm sạch, đập bỏ vỏ, thái miếng. Củ chuối hay quả chuối xanh gọt bỏ vỏ ngoài, ngâm nước, sau đó rửa sạch, thêm gia vị nấu với ốc thành một món đặc sản.

Hai thực đơn trên dùng lợi niệu chống phù nề. Nhiều lương y cho rằng hai thực đơn trên dùng tốt cho người đái tháo đường.

Ốc xào nấm hương:  Ốc nhồi 500 - 1.000g, nấm hương 20g, thịt nạc 60g. Ốc nhồi ngâm nước sạch 1 - 2 ngày, đem đập lấy ốc sống, nấm hương ngâm rửa sạch để hết nước thái nhỏ, thịt nạc thái, trộn lẫn với ốc và nấm hương, thêm gia vị hành, gừng, bột tiêu, muối, dấm. Để 15 phút, xào to lửa với dầu chiên cho chín, thêm nước dùng khuấy cho sôi đều, cho ăn nóng. Dùng cho các trường hợp sốt nóng vàng da, tiểu ít.

Chữa xơ gan, viêm gan mạn tính: Ốc nhồi 250g, kê cốt thảo 30g. Nấu nhừ, ăn hàng ngày.

Nước canh ốc nhồi tàu hũ: Ốc nhồi 500 - 1.000g, đem đập bỏ vỏ ốc, nấu với tàu hũ (đậu phụ), hành củ (hoặc hành tươi) lấy nước cho uống. Dùng cho các trường hợp say rượu, hôn mê.

Ốc nhồi luộc: Ốc nhồi 500 - 1.000g, ngâm nước sạch 2 - 3 ngày, đem luộc chín, khêu ốc ăn với nước gừng pha rượu và dấm mắm, đồng thời uống nước luộc ốc. Dùng cho bệnh nhân sốt nóng vàng da.

+ Vỏ ốc nhồi 2 cái, cỏ nhọ nồi 50g. Vỏ ốc rửa sạch, sao với cát, tán bột mịn. Cỏ nhọ nồi sấy khô, tán bột. Trộn đều hai bột với nhau. Xát vào răng lợi nhiều lần trong ngày. Chữa miệng lở, lưỡi giộp, lợi và niêm mạc lở loét.

BS. Ngọc Trâm  
Nguồn: SK&ĐS

Những thực phẩm nên thận trọng khi dùng

Những thực phẩm nên thận trọng khi dùng
Trong danh sách những thực phẩm này có tên cá nóc, quả Bồ hòn, các loại rau ăn lá, rau Đại hoàng, khoai mì (sắn), nấm. 

Cá nóc

Trong thịt cá nóc có chứa một chất độc có thể gây tử vong, do đó nếu chế biến cá nóc không đúng phương pháp thì cá nóc trở thành một thức ăn độc. Trong cá nóc có chứa chất độc tetrodotoxin tại các cơ quan nội tạng của nó, đặc biệt là gan và buồng trứng và thậm chí là cả da. Khi ăn phải chất độc này,các cơ bắp sẽ rơi vào trạng thái bị tê liệt trong khi nạn nhân vẫn hoàn toàn tỉnh táo, nhưng nạn nhân sẽ tử vong vì ngạt thở.

Vào năm 2008, dựa vào những kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã triển khai cho nông dân nuôi loại cá nóc phi độc tố, Usuki một địa phương thuộc quận Oita(Nhật Bản) đã trở thành nơi chuyên bán cá nóc phi nọc độc nổi tiếng ở Nhật Bản. Điều cần biết là gan, ruột, buồng trứng của cá nóc có chứa chất độc tetrodotoxin có hàm lượng mạnh gấp 1200 lần so với chất độc Xyanua. Chỉ cần 1 con cá nóc mang nọc độc thôi cũng đủ giết 30 người cùng một lúc. Do quá nguy hiểm mà các đầu bếp ở Nhật Bản phải theo học  một khóa học kéo dài 3 năm và phải có giấy chứng nhận chế biến cá nóc đạt yêu cầu mới được hành nghề, một đĩa cá nóc thành phẩm có giá không dưới 200 USD.Dù nguy hiểm nhưng dân Nhật Bản vẫn là dân “điếc không sợ súng”, khoảng 40 loại cá nóc được đánh bắt ở Nhật Bản và trung bình mỗi năm dân Nhật Bản tiêu thụ sơ sơ khoảng 10.000 tấn cá nóc.

Quả Bồ hòn


Quả Bồ hòn là một thành viên Sapindaceae (họ Bồ hòn),cây có nguồn gốc nhiệt đới Tây phi.Kể từ đó, quả này là một trong những nguyên liệu chính trong nền văn hóa ẩm thực của vùng vịnh Caribe, và nó cũng được trồng trọt tại các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới trên khắp Thế giới.Nhưng nếu ăn không đúng cách, quả bồ hòn là nguyên nhân gây ra chứng bệnh nôn mửa Jamaica, dẫn đến hôn mê hoặc tử vong.Quả bồ hòn khi còn xanh có chứa một chất độc gọi là hypoglycin,vì lẽ đó nếu muốn ăn thứ quả này thì phải đợi cho vỏ quả chuyển sang màu đỏ và tự bung vỏ tự nhiên.Một khi vỏ quả bồ hòn bung ra, thì chỉ ăn phần  áo hạt màu vàng của quả mà thôi,vì phần hạt bồ hòn cũng chứa chất độc.Thịt áo hạt của quả bồ hòn được đem chế biến với cá tuyết trở thành món ăn quốc gia của Jamaica.

Lạc

Lạc thuộc họ đậu (Fabaceae). Lạc đã được trồng đầu tiên tại các thung lũng ở Paraguay và hai bên dòng sông Parana thuộc vùng Charco của Paraguay và Bolivia.Các nhà khảo cổ học đã cho hay rằng lạc đã xuất hiện ở Peru cách đây khoảng 7600 năm.Theo hiệp hội hen, dị ứng và miễn dịch học Mỹ, thì lạc là nguyên nhân chính gây ra các trường hợp tử vong đối với bệnh nhân dị ứng lạc.

Các loại rau ăn lá

Theo trung tâm khoa học về Quan tâm cộng đồng Mỹ thì nhóm nghiên cứu này đã xác định được khoảng 363 trường hợp bộc phát từ việc tiêu thụ các loại rau ăn lá trong năm 2009, 240 vụ liên quan tới các loại rau ăn lá được chế biến tại các nhà hàng.Theo đó, các loại rau ăn lá có chứa một mầm bệnh gọi là Nirovirus, vốn bắt nguồn từ việc vệ sinh qua loa các nguyên liệu trước khi chế biến. Thêm nữa trong các loại rau ăn lá cũng có chứa thành phần vi khuẩn E. Coli và vi khuẩn Salmonella, vốn tồn đọng trên các loại phân bón có nguồn gốc động vật mà người ta không tẩy rửa rau thật kỹ.

Rau Đại hoàng

Đại hoàng là một nhóm loài cây thực vật thuộc giống Rheum, họ polygonaceae.Chúng có phần thân gốc khá dày.Đại hoàng có những chiếc lá lớn hình tam giác với cuống lá dài.Chúng có hoa nhỏ mọc theo cụm. Lá đại hoàng rất độc nhưng người ta lại sử dụng cây đại hoàng làm thuốc, phần thân cây được nấu làm thức ăn.Lá đại hoàng có chứa chất độc như axit oxalic,nephrotoxic và axit corrosive.Nấu lá đại hoàng với nước xô đa có nguy cơ làm gia tăng sự độc hại bằng cách sản sinh ra chất oxalate hòa tan.

Cá ngừ

Cá ngừ thuộc cá thu Nhật Bản. Trong thịt cá ngừ có chứa thủy ngân với hàm lượng khác nhau.Đó là một trong những lý do khuyên rằng phụ nữ đang mang thai nên hạn chế ăn cá ngừ…Nhưng việc tiêu thụ cá ngừ nhiều mỡ có khả năng làm giảm thiểu lượng thủy ngân trong cơ thể người hơn là ăn cá ngừ ít mỡ.Loại cá ngừ vây xanh lại chứa hàm lượng thủy ngân cao hơn trong thịt của chúng.

Khoai mì (sắn)

Khoai mì là loại cây thân bụi thuộc họ đại kích(Euphorbiaceae) cây có nguồn gốc Nam Mỹ và Tây Phi trong đó Nigeria được xem là nhà sản xuất khoai mì lớn nhất Thế giới. Khoai mì là nguồn cung cấp thành phần carbon hydrates đứng hàng thứ ba trong nhu cầu thực phẩm của nhân loại trên thế giới.Khoai mì có hai loại là khoai mì ngọt hay khoai mì đắng,phụ thuộc vào hàm lượng cyanogenic glucosides trong thịt, việc ăn khoai mì đắng có thể gây ra một chứng bệnh gọi là Konzo.Tuyệt đối không ăn sống lá và củ khoai mì bởi vì chúng tồn tại các chất độc như linamarin và lotaustralin.Khoai mì ngọt thì có ít hơn 20mm gam chất độc xyanua(CN)/kg thịt của khoai mì; trong khi đó khoai mì đắng sản xuất hơn 50 lần xyanua (1g/Kg). Khoai mì trồng vào mùa khô hạn thường củ chứa rất nhiều chất độc. Một liều  chất độc khoảng 40mg cyanogenic glucosides cũng đủ khả năng giết chết một con bò, nó cũng tạo nên chứng vôi hóa tụy ở người,dẫn đến chứng bệnh mạn tính về Tụy.

Nấm


Trong hàng ngàn năm qua con người đã sử dụng nấm nhằm điều chế ra các bài thuốc chữa bệnh dân gian.Liệu pháp chữa bệnh bằng nấm thuốc xuất hiện sớm ở phương Đông.Một số loài nấm có khả năng ngăn ngừa phát triển của khối u và giúp cân bằng hệ miễn dịch…là đề tài đang được nghiên cứu trong vòng 50 năm qua. Gần đây các cuộc nghiên cứu còn chỉ ra rằng nấm sò tồn tại nhiều vitamin D có khả năng chống các tia cực tím,mặc dù vậy, cũng có một số lượng nhỏ nấm rất độc, gây nên cảm giác rất khó chịu.Nếu ăn nhầm nấm độc có thể dẫn đến triệu chứng buồn nôn, tức ngực và có thể tử vong, vì lẽ đó không nên ăn những loại nấm lạ.

Nguyệt Anh 
(suckhoenct.com)

Trái bưởi với sức khỏe

Bưởi thuộc họ cam chanh, tên khoa học là Citrus Osb. Múi bưởi ngọt, hơi có vị chua. Nước bưởi chứa nhiều chất dinh dưỡng như đường trái cây, đạm, chất béo, axít, bêta carotène và chất khoáng.

Trái bưởi với sức khỏe

Bưởi cũng chứa nhiều vitamin như A, C, B1 và B2, trong đó lượng vitamin C cao gấp bốn lần so với trái lê. Thành phần dinh dưỡng khác của bưởi cũng ngang bằng với cam và quýt. Trong 123g bưởi gồm có 36,90calo; 46,86mg vitamin C; 1,69g chất xơ ăn kiêng; 318,57Iu vitamin A; 158,67mg Kali; 15,01mcg Pholate; 0,35mg vitamin B5.

Hạ cholesterol: Ăn bưởi đỏ hoặc vàng giúp hạ lượng cholesterol có hại trong máu, bưởi đỏ tác dụng cao gấp hai lần so với bưởi vàng. Bưởi đỏ còn giúp hạ lượng Trigycerides trong máu do có chứa nhiều hợp chất sinh học và polyphenol hơn so với bưởi vàng, đặc biệt ở người có lượng cholesterol và Trigycerides cao. Tuy nhiên, cả hai lọai này chứa nhiều chất xơ, Phenolic, flavonoid, Naringinen và axít Ascorbic nhưng trong bưởi đỏ ít Flavonoid và Anthocyanins hơn.

Tốt cho mạch máu: Ăn bưởi giúp cải thiện lượng máu trong cơ thể nhờ có chứa chất kháng ôxy hóa. Đặc biệt bưởi đỏ có tác dụng hỗ trợ tốt hơn nhờ chứa nhiều dưỡng chất trong đó có Lycopène. Thành phần Pectin của bưởi là lọai chất xơ hòa tan có tác dụng ngừa bệnh xơ vữa động mạch rất hiệu nghiệm. Tuy nhiên, một số hợp chất của bưởi có khuynh hướng gia tăng sự lưu thông của máu khi đang sử dụng một số lọai thuốc. Do vậy, nguy cơ gây độc tính cho các bắp thịt thường có liên quan đến việc ăn bưởi.

Ngừa bệnh sỏi thận:
Nếu bạn muốn giảm thiểu nguy cơ hình thành calci Ôxalat trong thận, hãy uống nước bưởi. Chỉ cần uống từ ½ đến 1 lít nước bưởi, táo hoặc cam mỗi ngày, sẽ giúp tăng sự bài tiết lượng pH của nước tiểu và axít citric ra khỏi cơ thể. Điều này có tác dụng hạn chế nguy cơ hình thành sỏi trong thận.

Củng cố hệ miễn dịch:
Lượng vitamin  C dồi dào của bưởi có tác dụng hỗ trợ tích cực cho họat động của hệ miễn dịch trong cơ thể. Chẳng hạn như giảm bệnh cảm cúm, ngăn không cho các gốc tự do họat động gây ra hiện tượng viêm tấy trong cơ thể có thể dẫn đến những bệnh khác như hen suyễn, viêm khớp, thấp khớp…

Ngừa bệnh về đường ruột và phổi:
Không chỉ nhờ bưởi chứa nhiều vitamin C, ăn buởi giúp ngừa bệnh ung thư phổi và ruột kết. Đó là nhờ chất Lycopène có trong bưởi giúp ngăn ngừa và chữa bệnh ung thư ruột. Ngòai ra, bưởi có thể giảm tăng cân bằng cách hạ thấp lượng insulin trong máu. Uống nước bưởi mỗi ngày giúp giảm bớt họat động của enzyme kích họat những hóa chất gây bệnh có trong khói thuốc lá.

Khỏe gan: Bưởi giúp tăng cường các men tiêu hóa của gan để lọai bỏ thành  phần Carcinogen, chất sinh bệnh ung thư. Đó là nhờ vào sự kích họat việc sản sinh các men tiêu hóa có tác dụng khử độc trong cơ thể.

Lọai trừ khối u gây bệnh:
Thành phần Limonoid của bưởi giúp không chế việc hình thành các khối u bằng cách tăng cường hình thành lọai enzyme khử độc có tên Glutathione-S-Transferase. Enzyme này gây ra phản ứng trong gan làm lõang độc tố để đào thải ra khỏi cơ thể. Thành phần Glucarate của bưởi còn giúp ngừa bệnh ung thư vú.

Những người mắc các chứng bệnh như đau dạ dày, không ăn lúc bụng đói gây cồn ruột và một số bệnh về răng, miệng như gây xót, mòn men răng không nên ăn bưởi. Một số loại thuốc uống có thể gây tương tác bất lợi cho hiệu lực của thuốc khi ăn bưởi. Hợp chất gồm Naringenin có tác dụng làm chậm tính giải độc và tiến trình chuyển hóa của ruột và gan có trong bưởi, sẽ gây cản trở cho chức năng cơ thể trong việc phá vỡ và lọai bỏ những chất này.

HOÀNG YẾN 
(theo Grapefruit Heath Benefits)