Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh nội tiết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh nội tiết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

Nâng cao chất lượng sống của người bị bệnh đái tháo đường

Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) cần hiểu rõ vai trò quan trọng ngang nhau của việc phòng bệnh và điều trị bệnh, trong đó điều trị bệnh là sự thống nhất của các yếu tố ăn uống, sinh hoạt và thuốc.

Nâng cao chất lượng sống của người bị bệnh đái tháo đường
Tập luyện thể dục phù hợp tốt cho bệnh nhân đái tháo đường.

Do những đặc điểm về sinh bệnh học, mỗi type ĐTĐ có những mục đích điều trị khác nhau:

Đái tháo đường type 1: Bệnh do hậu quả của quá trình hủy hoại tế bào bêta của đảo tụy Langerhans. Người mắc bệnh type này phần lớn ở lứa tuổi thanh thiếu niên (dưới 30 tuổi). Mục đích điều trị của nhóm này phải đạt các yêu cầu:

- Cải thiện và duy trì tình trạng lâm sàng và tâm lý bệnh nhân ở trạng thái bình thường, hạn chế đến mức thấp nhất sự khác biệt giữa người không mắc bệnh và người bệnh.

- Phòng chống hữu hiệu không để xảy ra các biến chứng như hạ đường máu, tăng đường máu có triệu chứng...

- Đảm bảo một đời sống xã hội bình thường về khả năng lao động, hạnh phúc gia đình...

Đái tháo đường type 2: Bệnh thường xuất hiện ở lứa tuổi trên 30, là lứa tuổi làm ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, cũng là lứa tuổi đóng vai trò then chốt trong cuộc sống mỗi gia đình. Vì thế phải cần đạt được các yêu cầu sau:

- Không để xảy ra triệu chứng lâm sàng ảnh hưởng tới người bệnh.

- Duy trì sự chuyển hóa bình thường của cơ thể.

- Duy trì trọng lượng cơ thể hợp lý.

- Cải thiện tình trạng bệnh lý tim mạch theo hướng tốt lên, ngăn ngừa các biến chứng. Kéo dài tuổi thọ, rút ngắn sự khác biệt giữa người bệnh ĐTĐ và người bình thường bằng nâng cao chất lượng cuộc sống (trong hoạt động xã hội, trong lao động và tư duy...).

Mục đích đặt ra rất đơn giản, rõ ràng nhưng để đạt được đòi hỏi bệnh nhân phải có nghị lực và quyết tâm cao. Đây cũng là vấn đề đòi hỏi giải quyết mối quan hệ tổng hòa giữa bệnh nhân, gia đình và xã hội.

Những yêu cầu về phía người bệnh

Đây là yêu cầu cơ bản nhất, quan trọng nhất. Kết quả điều trị và chất lượng điều trị của bệnh ĐTĐ phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của người bệnh.

Người bệnh ĐTĐ phải biết học hỏi qua sách báo, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, qua các nhà chuyên  môn, qua bạn bè để tích lũy cho mình sự hiểu biết đúng đắn và những kiến thức cần thiết, cơ bản về bệnh ĐTĐ. Đây là điều hết sức quan trọng và cấp thiết vì chính người bệnh sẽ biết mình phải làm gì và không nên làm gì. Mọi lời khuyên, lời chỉ dẫn của thầy thuốc sẽ trở nên vô nghĩa nếu người bệnh không làm theo, do không có sự hiểu biết đúng.

Những điều bệnh nhân cần biết

Những kiến thức cơ bản về bệnh ĐTĐ, quá trình phát triển tự nhiên của bệnh, các yếu tố nguy cơ dễ làm cho bệnh phát triển.

Những thông tin cần cho việc tự theo dõi bệnh, cách phát hiện sớm các biến chứng của bệnh để có biện pháp can thiệp kịp thời.

Những kỹ thuật cần cho tự điều trị bằng thuốc, kỹ thuật cần cho quá trình tự theo dõi bệnh.

Những kiến thức về chọn thuốc, về những tác dụng của thuốc, những khả năng có thể xảy ra khi dùng thuốc... Thái độ cần có khi những tác dụng ngoại ý có thể xảy ra khi dùng thuốc.

Những kiến thức cần và đủ để người bệnh tự tìm một chế độ ăn phù hợp, một lối sống phù hợp với nghề nghiệp, với thói quen sinh hoạt của cá nhân và gia đình.

Biết theo dõi chế độ điều trị (chế độ ăn, luyện tập, thuốc điều trị).

Theo dõi tình trạng chung của cơ thể (thừa cân, số đo vòng eo, huyết áp, các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng khác như đường máu lúc đói, ceton niệu)...

Những điều bệnh nhân phải tránh

Tin rằng ĐTĐ có thể chữa bằng bùa, ngải, cầu cúng, bằng thuốc nam, bằng cách ăn nhiều gan, lách, tụy của động vật...

Quá lo lắng khi biết mình bị ĐTĐ, lo cho con cháu và thế hệ sau này bị "lây". Thực tế ĐTĐ cũng như các bệnh không lây nhiễm khác, bệnh phát triển là một tất yếu; do nhiều yếu tố liên quan cùng bị ảnh hưởng nên bệnh mới phát sinh, phát triển. Trong thực tế không phải luôn luôn cứ cha hoặc mẹ mắc bệnh ĐTĐ thì con cũng bị ĐTĐ. Hơn nữa, ngày nay người ta thấy bệnh ĐTĐ có thể ngăn chặn và phòng bệnh được.

Người bệnh cần phải tự giác chấp hành nghiêm túc các hướng dẫn của thầy thuốc về chế độ ăn, chế độ luyện tập và chế độ sử dụng thuốc một cách kiên trì, tỉ mỉ.

Biết tự phát hiện những dấu hiệu không bình thường để tự điều chỉnh chế độ điều trị hoặc đến thầy thuốc khám bệnh kịp thời, không để xảy ra những tai biến đáng tiếc.

Biết phổ biến kinh nghiệm cho bạn bè, đồng nghiệp. Biết giúp người thân, quen phát hiện các yếu tố nguy cơ, can thiệp kịp thời, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ phát triển bệnh. Phổ biến kinh nghiệm tự quản lý bệnh cho những người cùng hoàn cảnh...

    Sự cảm thông, hiểu biết giúp đỡ lẫn nhau trong sinh hoạt và nếp sống lao động của vợ (hoặc chồng) người bệnh, là chỗ dựa tinh thần quan trọng nhất. Gia đình vừa là tổ ấm vừa là dinh lũy cuối cùng, là chỗ dựa cuối cùng để con người tồn tại, đấu tranh chống lại bệnh tật, chống lại những biến động trong cuộc sống. Hãy cùng vợ (hoặc chồng) bạn đi khám bệnh; hãy giúp nhau lập thời gian biểu để uống thuốc, luyện tập. Lập thực đơn điều trị về chế độ dinh dưỡng; quan sát để phát hiện sớm những bất thường trong sinh hoạt, phát hiện sớm các biến chứng...


(Theo Suckhoe & Đoisong)

Bệnh viêm đường tiết niệu ở người cao tuổi

Viêm đường tiết niệu có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng với người cao tuổi (NCT) thì việc điều trị gặp nhiều khó khăn hơn. Khi đường tiết niệu bị viêm sẽ gây ảnh hưởng nhiều đến thận. Đối với NCT, việc phát hiện sớm bệnh viêm đường tiết niệu cũng như thực hiện một số biện pháp phòng bệnh là hết sức cần thiết.

Bệnh viêm đường tiết niệu ở người cao tuổi

Nhiễm trùng đường tiết niệu...

Đối với NCT, do sức đề kháng ngày một giảm, thường mắc chứng sa sút trí tuệ (ảnh hưởng rất lớn đến sự điều hòa của thần kinh trung ương), đi tiểu không kiểm soát được cho nên dễ bị viêm đường tiết niệu ngược dòng. NCT có thể gặp nhiễm trùng đường tiết niệu cả phần trên (thận) và cả phần dưới (niệu quản, bàng quang và niệu đạo).

Có rất nhiều nguyên nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu ở NCT. Nguyên nhân có thể từ nội tại (nội sinh) như sỏi đường tiết niệu, chấn thương cột sống, nằm lâu do bại liệt hoặc do bất động bởi cố định xương bị gãy... và cũng có thể gặp nguyên nhân bên ngoài đưa đến (ngoại sinh) như nong niệu đạo, mổ lấy sỏi hoặc mổ u xơ tiền liệt tuyến bị bội nhiễm, viêm tiền liệt tuyến đưa đến viêm đường tiết niệu...

... Có thể gây biến chứng


Một số triệu chứng hay gặp viêm đường tiết niệu ở NCT như đau lưng. Đau lưng có thể âm ỉ và xuất hiện từng lúc nhưng có khi đau thành cơn rõ rệt, nhất là mỗi lúc có bưng bê, mang xách vật nặng. Nhiều trường hợp có sốt và rét run, (nhưng đối với NCT có sức đề kháng kém thì biểu hiện sốt nhẹ hoặc không sốt mà chỉ thấy ớn lạnh cũng có thể là triệu chứng viêm đường niệu) đi tiểu nhiều lần, tiểu khó (buồn đi tiểu nhưng không tiểu được) và có thể tiểu đau, buốt. Màu của nước tiểu có thể đục, có thể màu hồng (tiểu ra máu đại thể). Nếu viêm đường tiết niệu do có vật cản như sỏi đường tiết niệu thì thường kèm theo đau lưng hoặc có cơn đau quặn thận có thể bị tiểu dắt, tiểu buốt...

Viêm đường tiết niệu ở NCT nếu không phát hiện và điều trị tốt có thể đưa đến một số biến chứng rất nguy hiểm như: viêm thận, bể thận cấp tính có thể đưa đến suy thận, áp-xe quanh thận. Viêm đường tiết niệu cũng có thể đưa đến nhiễm trùng huyết là một bệnh cực kỳ nguy hiểm đến tính mạng của NCT.

Làm thế nào để phòng bệnh?

Để phòng bệnh viêm đường tiết niệu ở người cao tuổi, cần thường xuyên vệ sinh cá nhân cho thật tốt. Vệ sinh đường sinh dục ngoài và xung quanh vùng sinh dục ngoài (nhất là phụ nữ).

Nên tập thói quen uống nhiều nước(1,5-2l/ngày) nhưng nên uống vào buổi sáng và chiều, buổi tối trước khi đi ngủ cần hạn chế uống nhiều nước để tránh đi tiểu đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Mỗi lần buồn đi tiểu là phải đi tiểu ngay không được nhịn tiểu, bởi vì nhịn tiểu làm cho nước tiểu ứ đọng thời gian lâu sẽ gây bội nhiễm vi khuẩn và nguy cơ sẽ làm nhiễm trùng đường tiết niệu ngược dòng.

Không nên uống bia vào buổi tối hoặc trước khi đi ngủ buổi tối. Trước khi đi ngủ buổi tối nên nhớ đi tiểu. Nếu NCT bị các bệnh như: sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang...), các bệnh về tiền liệt tuyến thì cần được khám bệnh để được giải quyết càng sớm càng tốt.

Bác sĩ  Hạnh Trinh 
(Theo Suckhoe & Đoisong)

Thứ Năm, 23 tháng 9, 2010

Biến chứng bàn chân ở bệnh nhân bị đái tháo đường

Biến chứng bàn chân ở bệnh nhân bị đái tháo đường
Biến chứng thần kinh: Biến chứng thần kinh, gặp ở khoảng 40% BN ĐTĐ, làm giảm khả năng cảm nhận đau, nóng hay lạnh, đồng nghĩa với việc bạn sẽ không thể cảm nhận được chân đã bị tổn thương. Bạn có thể dẫm lên 1 cái đinh hoặc 1 hòn sỏi nhưng vẫn đi suốt cả ngày mà không hề hay biết, tương tự chân bạn cũng có thể bị 1 vết xước hoặc vết rách nhưng không biết nên không được điều trị kịp thời và chỉ khi chân bạn sưng to lên hoặc có nhiễm trùng nặng thì bạn mới biết, khi đó là đã ở giai đoạn muộn, điều trị thường không đạt kết quả tốt.

Mạch máu: Các BN ĐTĐ dễ bị xơ vữa động mạch, các mạch máu bị hẹp hoặc tắc sẽ làm giảm lượng máu đến các cơ quan trong cơ thể. Theo các nghiên cứu, có khoảng 20% BN ĐTĐ có hẹp hoặc tắc các động mạch ở chân. Hiện tượng kém nuôi dưỡng do máu đến ít sẽ hạn chế khả năng điều trị khỏi nhiễm trùng và lành các vết loét. Trường hợp bị tắc hoàn toàn động mạch, bàn chân và các ngón chân có thể bị hoại tử toàn bộ.

Nhiễm trùng: Các BN ĐTĐ dễ bị nhiễm trùng hơn người bình thường, lý do là đường máu cao và tuần hoàn máu kém làm cho các phản ứng bảo vệ chống nhiễm trùng ở các BN này diễn ra chậm hơn và kém hiệu quả hơn. Đa số các BN ĐTĐ ở Việt Nam là những người sản xuất trực tiếp tại các cánh đồng hoặc nhà máy, họ tiếp xúc trực tiếp với các nguồn vi khuẩn rất lớn, vì vậy nếu có bất kỳ một vết loét nào thì nguy cơ bị nhiễm trùng cũng như nguy cơ ổ nhiễm trùng lan rộng là rất lớn.

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như béo phì (làm tăng áp lực lên bàn chân), giảm thị lực (gây dễ ngã hoặc chấn thương bàn chân, khó phát hiện các tổn thương ở bàn chân), bị bệnh ĐTĐ đã lâu, kiểm soát đường máu kém (khó liền vết thương), bệnh thận (gây mất protein nên khó liền vết thương), rối loạn mỡ máu gây xơ vữa các động mạch cấp máu cho chân, đi giày hoặc tất không thích hợp... và cuối cùng là những người đã có tiền sử bị loét chân hoặc cắt cụt chân thì nguy cơ bị loét chân cũng sẽ tăng lên.

Biến đổi ngoài da: Bệnh ĐTĐ có thể gây những biến đổi ngoài da ở chân như làm da khô, bong da hoặc nứt nẻ, nguyên nhân là do dây thần kinh chỉ huy các hoạt động làm ẩm da đã bị tổn thương.

Chai chân: Chai chân hình thành nhiều do tăng áp lực ở gan bàn chân ở các BN ĐTĐ. Các chai chân này cũng có thể gặp nhiều ở người bình thường nên các BN ĐTĐ thường chủ quan và không quan tâm, chính vì vậy các chai chân này có điều kiện phát triển nhiều hơn, dễ bị nứt, loét rồi trở thành ổ nhiễm trùng.

Biến dạng bàn chân:
Do biến chứng thần kinh nên bàn chân bị mất cảm giác, khi đó mỗi khi đứng thì người bệnh sẽ không thể điều chỉnh tư thế bàn chân, các vị trí chịu áp lực nhiều sẽ có những biến đổi của cơ và da kéo theo những thay đổi của các khớp. Hậu quả là bàn chân bị biến dạng, điển hình được gọi là bàn chân Charcot (nhưng may mắn là rất ít gặp), và rất dễ bị loét tại các chỗ phải chịu áp lực cao.

Loét chân:
Hay xảy ra ở mu bàn chân và ngón cái, và thường do đi giày dép chật. Lưu ý là các vết loét thường bắt đầu chỉ là những vết xước hoặc phồng da rất nhỏ nhưng do không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách nên đã bị nhiễm trùng, tiếp sau đó nhiễm trùng ngày càng lan rộng ra toàn bộ bàn chân. Đến lúc này thì mọi biện pháp điều trị nội khoa bằng thuốc hoặc cắt lọc đều thường không có kết quả. Vì vậy, các BN ĐTĐ cần báo ngay cho bác sĩ điều trị khi phát hiện bất cứ tổn thương hoặc bất thường nào ở chân.

Cắt cụt chân:
Khác với người bình thường, vết loét chân ở BN ĐTĐ rất khó liền vì ít khi được cung cấp đủ máu, do đó vùng tổn thương vừa không được cung cấp đủ chất dinh dưỡng và ôxy, vừa không có đủ các tế bào máu như bạch cầu đến để tấn công vi khuẩn và các tế bào chết cũng không được dọn dẹp kịp thời. Mặt khác, đường máu cao sẽ ức chế các hoạt động của bạch cầu, làm giảm hiệu quả của các phản ứng viêm chống nhiễm khuẩn. Do vậy, vết thương rất dễ bị nhiễm trùng lan rộng và khó liền, khi đó bắt buộc phải cắt cụt. Điều đặc biệt là các động mạch có thể bị tắc hẹp ở các đoạn cẳng chân hoặc cao hơn như ở đùi nên một số trường hợp tuy chỉ có nhiễm trùng bàn chân nhưng lại cần cắt cụt đến trên đầu gối.

Các biến chứng bàn chân do ĐTĐ như biến dạng bàn chân, loét bàn chân, hoại tử ngón chân... là nguyên nhân phổ biến nhất trong nhóm nguyên nhân không phải chấn thương gây cắt cụt chân ở các nước công nghiệp phát triển. Theo thống kê có khoảng 5-7% số BN ĐTĐ có biến chứng loét bàn chân và nguy cơ bị cắt cụt chân ở các BN ĐTĐ cao gấp 15 - 46 lần so với người không bị ĐTĐ. Còn tính trên phạm vi toàn thế giới thì cứ 30 giây lại có 1 BN ĐTĐ bị cắt cụt chân. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời các biến chứng bàn chân thì có thể ngăn ngừa được tới 85% các trường hợp bị cắt cụt.

Dự án phòng chống bệnh đái tháo đường QG

Chế độ luyện tập với bệnh nhân bị đái tháo đường

Nguy cơ biến chứng tim mạch ở những bệnh nhân đái tháo đường là rất cao nhưng luyện tập thể thao có thể hạn chế tốt những biến chứng này vì hạn chế được tăng huyết áp, giảm được cholesterol có hại, cải thiện chức năng tim mạch của người bệnh như làm giảm nhịp tim lúc nghỉ, làm tăng khả năng co bóp tống máu của cơ tim, duy trì sự dẻo dai của cơ xương khớp. Tuy nhiên bệnh nhân cũng gặp phải những nguy hiểm nếu tập luyện quá mức.

Chế độ luyện tập với bệnh nhân bị đái tháo đường

Lợi ích và nguy cơ khi  tập luyện

Tập luyện thường xuyên làm gia tăng nồng độ HDL (loại cholesterol tốt), gia tăng sự tiêu hao năng lượng, giúp giảm trọng lượng cơ thể ở bệnh nhân béo phì. Quá trình tập luyện còn giúp người ta tăng sự hưng phấn, giảm được áp lực bệnh tật và công việc, hạn chế tình trạng stress. Tập thể dục đều đặn còn có tác dụng cao hơn đối với người có chế độ ăn với lượng calo vừa phải, nhưng sẽ ít hoặc không có tác dụng nếu bệnh nhân áp dụng chế độ ăn kiêng với lượng calo thấp (khoảng 600- 800kcal/ngày). Hoạt động thể lực đều đặn ở người bệnh đái tháo đường có thể giảm nồng độ đường máu cả trong và sau khi tập luyện. Người ta thấy rằng nếu tập đều đặn có thể cải thiện mức cân bằng lượng đường trong máu một thời gian dài và kiểm soát mức đường hằng ngày. Tập luyện còn giúp cơ thể tăng độ nhạy với insulin máu, do vậy nhu cầu insulin bổ sung hằng ngày có thể được giảm đi. Đây là tác dụng rất quan trọng với bệnh nhân đái tháo đường týp 2, vì tình trạng giảm độ nhạy với insulin là nguyên nhân chính gây tăng đường huyết ở người bệnh.

Tuy nhiên, nếu tập luyện quá mức không phù hợp với sức khỏe sẽ dẫn đến những hậu quả nguy hiểm. Đó là cơn hạ đường huyết có thể xuất hiện ngay trong lúc tập hoặc sau khi kết thúc bài tập. Thậm chí ở một số bệnh nhân đái tháo đường týp 1, nguy cơ này có thể xảy ra muộn, sau thời điểm tập là 6 - 14 giờ, thậm chí là 24 giờ nếu cường độ tập nặng và lâu. Ngược lại, một số bệnh nhân lại bị tăng đường huyết sau khi tập vài giờ, bệnh nhân đái tháo đường týp 1 có hiện tượng này sẽ bị rơi vào tình trạng nhiễm toan ceton. Triệu chứng thường gặp nhất là hạ đường huyết xảy ra ở bệnh nhân đang điều trị insulin hoặc đang dùng thuốc hạ đường huyết. Một số bệnh nhân lại do ăn kiêng quá mức làm cho cơ thể không đủ năng lượng hoạt động hoặc do tự ý tăng liều insulin mà không theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc. Lúc này người bệnh sẽ có các biểu hiện như đói, run tay chân, vã mồ hôi, thậm chí hôn mê...

Các cơn đau thắt ngực, loạn nhịp tim thậm chí là nhồi máu cơ tim cũng có thể xuất hiện. Bên cạnh đó, các biến chứng khác cũng có thể trầm trọng thêm như gây xuất huyết đáy mắt hoặc làm bong võng mạc ở những người đã có biến chứng đáy mắt giai đoạn 3. Sự tiêu hao năng lượng trong luyện tập làm mất thêm chất đạm qua nước tiểu và làm trầm trọng bệnh lý thận do đái tháo đường gây ra. Đối với những người bị thoái hóa khớp, việc tập luyện quá mức có thể làm tổn thương khớp.

Kiểm soát bệnh chặt chẽ và lựa chọn mức độ luyện tập phù hợp

Những nguy cơ xảy ra là do người bệnh tập luyện quá mức sức khỏe của mình, trong số đó có người còn dùng quá liều thuốc hạ đường huyết hay ăn uống kiêng khem quá mức, dẫn đến cơ thể bị mất sức khi tập luyện. Một số người lại vận dụng một cách quá máy móc các bài tập, không kể lúc khỏe, lúc mệt. Do vậy bài tập phù hợp nhất cho người đái tháo đường là đi bộ hằng ngày, vào buổi sáng và chiều mát, mỗi lần đi khoảng 30 phút. Người bệnh phải chọn giày vải mềm. Trong khi tập luyện nếu thấy dấu hiệu hoa mắt chóng mặt cần ngừng tập ngay lập tức, đặc biệt chú ý đối với người già, người có các bệnh mạn tính đi kèm khác. Hằng ngày nên đo đường huyết để có sự điều trị và tập luyện phù hợp. Những người mới mắc bệnh hay bệnh được kiểm soát tốt cũng không nên tham gia những môn thể thao đòi hỏi nhiều sức như đá bóng, chạy việt dã, tập tạ... Bên cạnh tập luyện, người bệnh phải có một chế độ dinh dưỡng phù hợp với bệnh của mình.

BS. Hoàng Minh Quang

Chăm sóc bàn chân khi bị bệnh đái tháo đường

Nếu như biến chứng động mạch vành và tai biến mạch máu não có thể dẫn đến đột tử thì biến chứng mạch máu ngoại vi bàn chân cũng là một bệnh thường gặp và gây ra không ít nguy hiểm, thậm chí nhiều người bệnh phải cắt cụt chi do hoại tử. Do vậy vấn đề cần thiết là có biện pháp chăm sóc bàn chân đúng cách cho người đái tháo đường.

Chăm sóc bàn chân khi bị bệnh đái tháo đường

Những bệnh hay gặp ở bàn chân người đái tháo đường

Bệnh thần kinh ngoại vi: Đường huyết cao làm hủy hoại lớp áo ngoài của các dây thần kinh, là nơi tiếp nhận cảm giác. Vì thế, người bệnh có thể không cảm thấy đau, nóng hay lạnh ở bàn chân và cẳng chân của mình, khi dẫm phải đinh hay các vật sắc nhọn hoặc khi bị bỏng mà không biết. Người ta gọi đó là hiện tượng "mất các cảm giác bảo vệ". Vì vậy, một vết thương dù nhỏ cũng có thể bị loét rộng ra và trở thành trầm trọng. Các biểu hiện sớm thường gặp là: cảm giác lạnh ở hai chân, ngứa hoặc tê bì; bứt rứt khó chịu, hoặc nóng ran ở hai bàn chân.

Bệnh mạch máu ngoại vi:
Thường xảy ra ở các mạch máu nhỏ và hẹp, làm giảm dòng máu tới chân.Việc kém máu nuôi làm cho da chân trở nên khô, nứt nẻ, dễ bị loét và nhiễm khuẩn. Biểu hiện này thường kín đáo, khó nhận biết như: thay đổi màu sắc da, lạnh hoặc tê bì hai chân, đau chân lúc nghỉ ngơi...

Tổn thương mạch máu ngoại vi, nếu phối hợp với bệnh thần kinh ngoại vi, sẽ làm vết thương lâu lành. Mặt khác, đường huyết cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Vì thế, vết thương có thể bị loét, nhiễm khuẩn, có thể tiến triển thành hoại tử nếu không được điều trị đúng và kịp thời. Khi đó nguy cơ cắt cụt chi rất cao.

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến loét bàn chân là: Nam giới; mắc bệnh đái tháo đường trên 10 năm hoặc tuổi trên 60; kiểm soát đường huyết kém; có biến dạng bàn chân, chai chân, phồng rộp da chân...; đã từng bị loét bàn chân; có các biểu hiện của tổn thương thần kinh ngoại vi và/hoặc tổn thương mạch máu ngoại vi; giảm thị lực; có biến chứng thận; đi giày dép không phù hợp với bàn chân... Loét bàn chân dễ xảy ra nếu có nhiều yếu tố nguy cơ kể trên hoặc có một nguy cơ nhưng ở mức độ nặng.

Chăm sóc bàn chân khi bị bệnh đái tháo đường

Trước hết, người bệnh phải có cách thay đổi lối sống giúp kiểm soát tốt đường huyết, huyết áp và cholesterol máu ở mức độ an toàn. Không dùng các chất kích thích, đặc biệt là thuốc lá, dùng thuốc đúng chỉ định hằng ngày. Với riêng chăm sóc bàn chân cần có những lưu ý sau đây:

Kiểm tra bàn chân hằng ngày: Nên chọn một thời điểm thích hợp trong ngày để kiểm tra bàn chân, thường là buổi tối và làm việc đó như một thói quen. Chọn nơi đủ ánh sáng để quan sát kỹ bàn chân và các kẽ ngón chân, tìm xem có các vết nứt trên da, các vết phỏng rộp, vết thâm, các nốt chai chân và những chỗ đau trên da. Nếu không cúi xuống để nhìn bàn chân được rõ, hãy sử dụng một chiếc gương hoặc nhờ người thân trong gia đình hay bạn bè giúp đỡ.

Vệ sinh chân hằng ngày: Cẩn thận rửa sạch chân với nước ấm và xà phòng trung tính, đặc biệt là khoảng kẽ giữa các ngón chân. Không ngâm chân trong nước quá lâu. Trước khi rửa chân hay tắm, nên kiểm tra nhiệt độ của nước xem có quá nóng không. Dùng nhiệt kế, mu tay hoặc khuỷu tay để kiểm tra: nhiệt độ nước không nên quá 37oC. Sau khi rửa, dùng khăn bông mềm thấm khô chân, đặc biệt các kẽ ngón chân. Nếu da chân khô có thể dùng kem dưỡng da bôi lên trên mu chân và dưới lòng bàn chân để giữ cho da được ẩm và trơn, nhưng không bôi vào kẽ ngón chân.

Cắt móng chân mỗi tuần hoặc khi thấy dài: Nên cắt tỉa móng chân theo đường vòng của ngón. Không để móng dài, cũng không cắt móng quá ngắn và không cắt sâu vào các góc móng (khóe móng). Nếu chân có các cục chai, không được tự ý cắt bỏ, cũng không dùng dao cạo, băng dính hoặc dịch lỏng để loại bỏ vết chai.

Giữ cho mạch máu được lưu thông: Hãy đặt chân ở tư thế ngang khi ngồi. Không bắt chéo chân trong thời gian dài. Không đi tất chật, đàn hồi, có vòng cao su ở quanh cổ chân. Tập cử động các ngón chân trong khoảng 5 - 10 phút, vài lần trong ngày. Các hình thức luyện tập như đi bộ, bơi lội hoặc đạp xe là những bài tập thể dục tốt và dễ cho bàn chân vận động, giúp cải thiện lưu thông mạch máu.

Chọn giày dép như thế nào?


Luôn mang giày dép thích hợp để bảo vệ bàn chân kể cả khi đi lại trong nhà và lúc lao động ngoài trời. Kiểm tra bên trong giày xem có gạch đá, vật nhọn, những chỗ gồ ghề, thủng rách trước khi mang. Lưu ý tìm những hõm tì đè của bàn chân lên mặt đế giày dép (cho biết có vùng có tăng áp lực ở bàn chân). Mang tất để giảm chấn thương, loại tất không có chỗ nối. Khi trời lạnh chỉ mang tất, không dùng các chai nước nóng hoặc các vật nóng đặt lên chân để làm ấm và cần thay tất hằng ngày vì rất dễ gây bỏng do thần kinh ngoại vi mất cảm giác. Trong lòng giày dép nên có miếng lót mềm. Nên chọn mua giày vào buổi chiều hoặc cuối ngày. Với những đôi giày mới, nên đi thử từ từ, mỗi ngày khoảng 1 đến 2 giờ trong một vài tuần đầu để chân được làm quen.

Luôn giữ giày và tất sạch sẽ khô ráo để tránh những bệnh về da.

Không nên để chân trần tiếp xúc với bề mặt nóng như cát nóng, bề mặt xi măng ngoài trời nắng... Thường xuyên thay giày dép đi trong ngày, nên có hơn 2 đôi đi lại trong ngày với kiểu dáng khác nhau vì kiểu giày dép khác nhau giúp bàn chân không tì đè mãi ở một vị trí. Tuyệt đối không dùng giày cao gót và dùng các trang sức ở bàn chân.

Theo SK&ĐS

Phòng ngừa nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân mắc tiểu đường

Bệnh tiểu đ­ường có thể gây ra các biến chứng nh­ư đục thuỷ tinh thể, suy thận, hoại tử chi dư­ới dẫn đến phải cắt bỏ, đặc biệt là các biến chứng tim mạch.

Phòng ngừa nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân mắc tiểu đường

Bệnh nhân tiểu đ­ường týp 2 có nguy cơ bệnh tim mạch tăng 2-4 lần, nguy cơ xơ vữa động mạch cao gấp 2-3 lần so với ngư­ời bình thường. Tần suất tử vong do bệnh tim cao gấp 2 lần ở nam giới tiểu đư­ờng và 4 lần ở nữ giới tiểu đường so với ng­ười bình thường.

Các bệnh nhân tiểu đ­ường có tăng đáng kể tần suất và độ nặng của cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim (không chỉ do xơ vữa động mạch vành mà bệnh lý vi mạch động mạch vành cùng có thể gây thiếu máu cục bộ cơ tim ở bệnh nhân tiểu đ­ường), và suy tim ứ huyết nhiều hơn ngư­ời không bị tiểu đ­ường.

Theo thống kê thì trên 80% bệnh nhân tiểu đường bị tử vong là do hậu quả của bệnh tim mạch. Nếu một người vừa bị bệnh tiểu đường, vừa bị huyết áp cao và bệnh mạch vành thì có nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ cực cao. Vì vậy vấn đề phòng ngừa các biến chứng tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường là hết sức quan trọng.

Các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch trên bệnh nhân tiểu đư­ờng týp 2 bao gồm tăng hàm l­ượng LDL-cholesterol, giảm HDL-cholesterol máu, và tăng HA.

Để phòng ngừa các biến chứng tim mạch ở bệnh nhân bị tiểu đường cần phải tuân thủ các nguyên tắc đơn giản sau:

1) Kiểm tra huyết áp thường xuyên:


Đối với bệnh nhân tiểu đường, chỉ số huyết áp không nên vượt quá 135/85 mm Hg.

Bệnh tăng huyết áp rất nguy hiểm vì thường không thấy có biểu hiện triệu chứng. Đa số các trường hợp, bệnh được phát hiện ngẫu nhiên trong kiểm tra sức khoẻ, một số ít trường hợp được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn với các biểu hiện triệu chứng khác nhau, tình trạng sức khoẻ giảm sút trầm trọng.

Khuyến cáo nên kiểm tra huyết áp tối thiểu 1 lần/tháng, thậm chí cả khi huyết áp không vượt quá 135/85 mm Hg và bạn vẫn cảm thấy khoẻ mạnh bình thường.

2) Kiểm soát cân nặng:

Nếu bị thừa cân thì nguy cơ bị bệnh huyết áp cao ở bệnh nhân bị tiểu đường sẽ tăng gấp đôi. Nếu tích mỡ chủ yếu tập trung ở bụng-béo bụng (đặc biệt là ở phụ nữ) thì nguy cơ càng cao. Béo bụng ở phụ nữ là dấu hiệu của hội chứng chuyển hoá.

Vì vậy, phải thường xuyên kiểm tra cân nặng, nếu cân nặng vượt quá tiêu chuẩn sinh lý thì phải áp dụng các biện pháp ăn uống và tập luyện để giảm cân về mức hợp lý.

3) Duy trì chế độ ăn uống dành cho bệnh nhân tiểu đường:


Trong chế độ ăn của bệnh nhân tiểu đ­ường cần hạn chế tối đa bánh kẹo ngọt và đ­ường, không ăn thịt mỡ, không ăn quá 3 quả trứng/tuần và ăn cách ngày, ăn đủ chất tinh bột, chất đạm, uống sữa không béo (đã tách bơ), đặc biệt là tăng c­ường ăn rau, trái cây. ăn nhiều trái cây và rau quả, ăn gạo lựt, bánh mỳ đen sẽ giúp phòng ngừa biến chứng tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường vì chúng chứa nhiều vitamin C và E và chất xơ là những chất giúp cơ thể loại bỏ bớt LDL-cholesterol (cholesterol xấu) - là nguyên nhân gây bệnh tim mạch.

4) Hạn chế tối đa sử dụng muối trong chế biến thức ăn:

Ăn thức ăn mặn sẽ dẫn đến giữ nước trong cơ thể và tăng khối lượng máu lưu thông, kết quả là tăng huyết áp. Cố gắng từ bỏ thói quen ăn mặn (dùng không quá 6 gam muối ăn/ngày), Thậm chí khuyến cáo không dùng muối ăn vì trong rau quả và gạo đã chứa một lượng natri đảm bảo tương đối nhu cầu của cơ thể.

5) Không uống nước chè đặc, cà phê đặc:

Vì chúng làm tăng huyết áp. Sau khi uống một cốc cà phê huyết áp có thể tăng thêm 5 mm Hg.

Ảnh hưởng của chất caffein sẽ đạt đỉnh điểm sau 30-60 phút sử dụng. Caffein còn chứa trong sôcôla, nước coca-cola, bột ca cao, chè. Bệnh nhân tiểu đường tốt nhất là tránh sử dụng tất cả các thứ đồ này.

6) Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên:

Chủ yếu sử dụng các bài tập luyện rèn sức bền chung như­ đi bộ nhanh, bơi và chạy b­ước nhỏ.

Các bài tập này giúp cải thiện lưu thông máu, cải thiện trạng thái chức năng của hệ thống tim mạch, hô hấp. Đi bộ nhanh và chạy b­ước nhỏ còn có tác dụng giảm béo tuyệt, bởi khi thực hiện các bài tập này quá trình cung cấp năng lư­ợng cho cơ thể đa phần do đốt cháy mỡ.

Các bài tập này tác động lên các yếu tố gây bệnh nh­ư xơ vữa động mạch (giảm hàm lư­ợng cholesterol máu), giảm cân ở những ng­ười bị thừa cân, giảm huyết áp; nâng cao sức khoẻ; điều hoà l­ượng đ­ường glucose trong máu thông qua việc tăng cư­ờng chuyển hoá glucose, cải thiện sử dụng glucose của các tổ chức mô, đặc biệt là của hệ thống cơ bắp, tăng c­ường tác dụng của insulin, giảm liều lượng thuốc dùng trong ngày.

7) Không hút thuốc lá:

Thuốc lá làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng của bệnh tim mạch, đặc biệt là ở bệnh nhân tim mạch có tiểu đường thì nguy cơ này tăng gấp đôi.

8) Biết cách kiểm soát stress:

Giữa stress và bệnh huyết áp cao có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Trong trạng thái căng thẳng thần kinh tâm lý người ta thường cảm thấy đau đầu, mặt nóng bừng, thậm chí đau nhói ở ngực, đó chính là biểu hiện huyết áp tăng cao, bởi vậy nếu con người thường xuyên trong trạng thái stress thì không thể tránh khỏi bệnh huyết áp cao.

Nên tránh những lo toan, căng thẳng không cần thiết. Nếu thấy căng thẳng cần phải áp dụng các biện pháp giải toả ngay (nghe nhạc nhẹ, đi dạo, tập thể thao, tăng thời gian ngủ nghỉ…).

Trong trường hợp bệnh nhân huyết áp cao kết hợp có tiểu đường, thì việc điều trị huyết áp cao phải thận trọng. Không dùng các thuốc lợi tiểu, chọn thuốc hạ huyết áp không gây ảnh hưởng đến hàm lượng đường máu, không tự ý dùng các loại thảo dược, và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc đã trình bày ở trên.

TS. Đặng Quốc Bảo